Xu Hướng 12/2023 # 24 Sơn Bàn 72 Hướng Hung Cát Trong Phong Thủy (Phần 1) # Top 19 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết 24 Sơn Bàn 72 Hướng Hung Cát Trong Phong Thủy (Phần 1) được cập nhật mới nhất tháng 12 năm 2023 trên website Globalink.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1.NHÂM SƠN – BÍNH HƯỚNG.

1. Nhâm Sơn – Bính Hướng :

Kiêm Tý Ngọ 3 phân có tên là Thiên Khôi Long.

Thiên Khôi Long tinh, rất hợp với trung nam, được vinh hoa trên đời ít gặp. Táng đặng chân Long, chân Cục, người nhà đặng giầu có , con cháu hanh thông. Long này hợp với Cát Thủy . Chủ người mạng Thủy phú quý. Người mạng Mộc Thực Lộc , người mạng Kim bình .

Như hạ đặng 7 phân Nhâm Sơn , đầu Long tọa Giáp Tý – Hướng Giáp Ngọ; Kim Long , Kim Hướng . Dương lai – Dương Thụ, như Cấn , Giáp triều Thủy lưu, Đinh Thủy đi ra thì hợp quý cách cát tường của Mộc Cục ( Hóa Tử vi Vượng Hướng , Thủy ra Mộ ).

Tốn , Ất Thủy – Tên là Kinh Vân Thiên Thượng Tham Lang của Kim Cục đại cát .Tử tôn hưng thịnh , lắm ruộng vườn , 3 năm phát tài , 12 năm giầu lớn . Năm Tị – Dậu – Sửu sinh quý tử , 18 năm , 24 năm khoa giáp liền liền , một đời quý hiển , về sau dần suy thoái .

Như Ngọ và Khôn làm Văn Khúc Thủy lai triều , chủ nam yêu Hoa , Nữ háo sắc . Đàn bà tranh tụng lôi thôi, bại sản gia nghiệp. Nếu Thủy đảo ra phá Tham Lang, làm nghịch Thủy chi Long thì tha phương chết trẻ.

2/ Nhâm Sơn – Bính Hướng :

Kiêm Hợi Tị 3 phân – Tên là Thiên Phủ Long.

Thiên Phủ Long , cung quý có dư, quý lại càng quý, nhất là con giữa, lại được Cửu tinh lai nhập miếu, càng về sau càng vinh hoa tấn phát. Long này bát ly hậu hiển quý, đời đời nhân nghĩa mãn môn. Trưởng và trung nam có mạng Hỏa, phú quý song toàn , người mạng Kim bại tuyệt.

Như hạ 7 phân Nhâm Sơn , đầu Long tọa Quý Hợi – Hướng hợp Quý Tị , Thủy Long , Thủy Hướng , Dương lai – Dương Thụ,năm đầu có hao . Như Canh Khôn ( Vũ Khúc ) Thủy lai triều nhập Bính , lưu Giáp là Kim Cục Mộc dục Hướng , Thủy theo phương Thai mà ra , thời làm tín Thần , trùng trùng phúc lộc , hưng Long , đại cát xướng. Năm Thân – Tý – Thìn sinh quý tử , 12 năm đại vượng , được chân Long , đích Huyệt, 9 đời con cháu làm đến Tam công.

Thủy đảo nội dương hữu thời hung , nội dương đảo tả thời cát , cẩn thận đó. ( Nước Sinh , Vượng, Quan , Lâm vào Minh đường cát . Nước Bệnh , Tử , Mộ , Tuyệt vào Minh đường là hung ). Hướng này nước ra Tốn Tị là phạm sát nhân Hoàng Tuyền là đại hung . Nếu xuất Đinh Mùi là Hóa Tử vi Vượng đại cát .

3/ Nhâm Sơn – Bính Hướng :

Chính Hướng tên là Tử Nhân Long.

Tử Nhân Long vị, khó kham nổi nhập miếu , biết rằng giầu đó lại nghèo đó . Một đời đã thấy ứng nghiệm , cháu con lâu dài tuyệt tự , tuyệt tông. Long ấy xuất quý thì đời sau cũng bại tuyệt, Huyệt tốt cũng chỉ bình bình , một hai đời tốt, ngành trưởng gặp hung họa trước , trung nam tạm yên. Như hạ chính Nhâm Sơn , đầu tọa Tử nhập hướng đài là cải Thủy long Hỏa hướng không biến .

Như Tốn Thủy xuất đi quan hệ Bính Hướng Hoàng Tuyền ( Thai Hướng , Tuyệt Thủy lưu )- Lại gặp Nhâm Sơn tuyệt địa , sách rằng : Ất , Bính Hoàng tuyền Tốn mạc du . Sát ngành trưởng nặng nhất. Khôn Thân Thủy triều ( Sinh ) quy Bính khứ – Là Thai Hướng , Thai Phương , cũng được vài đời phú quý , phát tài .Năm Thân – Tý – Thìn sinh quý tử, 3 đời sau sẽ bại .Dần – Ngọ – Tuất niên ứng hung họa, bệnh tật khởi , không nên khinh thường.

2.TÝ SƠN – NGỌ HƯỚNG.

4/Kiêm Nhâm Bính 3 phân

Tên là Tấn Khí Long.

Tấn Khí Long rất là hợp, cức quý cách , phước lực có dư, văn chương lỡi lạc , người thanh tú , ruộng vườn thăng tiến . Long ấy nếu hợo cát Sa , cát Thủy , nhanh chóng phát ruộng vườn , nhiều cả Châu , Huyện . Người mạng Thổ được Thực Lộc , Kim mạng gia quan tấn chức bền lâu , lại đắc tài. Ứng vào các năm Thân – Tý – Thìn .

Nếu hạ 7 phân Tý Sơn , đầu Long tọa Bính Tý – Hướng Bính Ngọ – Là Thủy Long , Thủy Hướng , Huyệt ẩn , kết ẩn . Như Khôn Thân Thủy triều Đường là Tham Lang Thủy , con cháu đời đời mặc áo gấm. Bính Đinh Thủy nếu lại , sợ phạm Lộc Tồn , trưởng phòng bại , ngành giữa tự ải , tố tụng, ngành út điện , sét tổn thương , chủ tuyệt . Nếu nghịch Thủy phá Tham Lang , thì không hạ Huyệt Hướng này .

5/Tý Sơn – Ngọ Hướng .

Chính Hướng – Tên là Quảng Đắc Long.

Quảng Đắc Long là cung Lộc , rất lợi kim ngân , tài bạch , bình bạc , chén ngọc , phú quý lâu dài . Lập Kim sớm áo gấm về làng, nhiều phú quý, nhất cử thành danh. Nếu xa Đế Đô , Long ấy phú quý song toàn ; Người mạng Thủy được quý hiển , đắc tài lâu dài , người mạng Mộc thực Lộc . Như hạ chính Tý Sơn , đầu Long tọa Mậu Tý – Hướng Mậu Ngọ – Hỏa Long , Hỏa Hướng thuần hiểm , Khôn Thân , Canh , Dậu Thủy xuất khứ hung , xuất Đinh Mùi thì đại cát .

6/ Tý Sơn – Ngọ Hướng .

Kiêm Quý Đinh 3 phân – Tên là Quảng Thọ Long. Quảng Thọ Long rất hợp việc giầu có , con cháu vinh hoa trăm năm , vạn đời nhân đinh hưng vượng , có thanh danh , đại cát lợi . Xuất người trường thô , phú quý. Người mạng Hỏa giầu , người mạng Mộc quý .

Thổ Hướng ẩn trung sinh , như có Thủy triều nhập, lưu xuất ra Bính ( Thai Hướng Thủy , Xuất Thai ); Đinh Canh làm quý nhân , Thân cùng Thiên thượng Truyền tống , Tham Lang, Bính Tân làm Lục Tú , mọi ngành vượng phát , từ 6-9 năm phát lớn , năm Thân – Tý – Thìn sinh quý tử , xuất anh hùng hào kiệt, 9 đời vinh hiển.

Nếu Thủy lưu phá Tham Lang làm nghịch Long, xuất người da vàng ủng , đại hung . Thủy xuất Tốn Tị sát nhân đại Hoàng Tuyền hung.

3.QUÝ SƠN – ĐINH HƯỚNG.

7/Quý Sơn – Đinh Hướng.

Kiêm Tý Ngọ 3 phân – Tên là Quảng Phú Long .

Quảng Phú Long , phú quý không còn nghi ngờ , ngưu , mã , diền trang ngàn dặm có dư , khác họ đồng cư , tài lộc dồi dào vô cùng . Long này 2 họ đồng cư vượng. Trưởng nam thịnh nhất .

Như hạ Huyệt 7 phân Sơn đầu , Tọa Nhâm Tý – Hướng Nhâm Ngọ , Mộc Long , Mộc Hướng , nước chảy qua lại Khôn Thân xuất đi là đại cát ( Mộ Hướng , Tuyệt Thủy lưu ), diệu quyết này thời Sư ít biết . Đến năm Hợi – Mão – Mùi sinh quý tử. ( Mộc cục ).

Nếu Dưỡng Hướng Thủy quy Tuyệt- Là quý nhân Lộc Mã thượng ngự giai , đại cát , 4 đời đại vượng . Nếu Tuất – Càn – Hợi xuất khứ , ấy là phá Tham Lang , lưu Mão Giáp xuất khứ là phá Võ Khúc , nghịch Long chi địa , chủ cô quả , sinh câm điếc , lắm bệnh tật .

8/ Quý Sơn – Đinh Hướng.

Kiêm Sửu Mùi 3 phân – Có tên là Kim Phúc Long.

Kim Phúc Long cung rất tốt lành. Kim ngân thương khố vượng cháu con .

Đời đời vinh hiển , tôn quý . Long này mọi ngành phát đạt như nhau. Mạng Hỏa được Thực Lộc , Mạng Mộc khoa bảng đỗ cao , Thủy mạng không hợp. Nếu táng hạ 7 phân Quý Sơn , đầu Tọa Ất Sửu – Tương hợp với Kim Long , Kim Hướng , Dương lai Dương thụ , Thủy hiệp Sinh , Vượng đại khai Minh Đường , tứ Thủy lai triều là Thiên thượng Tham Lang , Võ Khúc thì con cháu phát đến Tam Công. Bính làm Thiên Mã , Khôn làm Tam Dương. Đinh làm Hãn môn, Hoa biểu , nước phương này nên sâu đầy.

Tị – Dậu – Sửu sinh quý tử , 18-24 năm phát khoa giáp , đại vượng , gia nghiệp 9 đời truyền lưu. Hướng này Thủy nên xuất Tốn Tị là Dưỡng Hướng Tuyệt Thủy lưu, xuất Khôn Thân là Mộ Hướng Tuyệt Thủy , đại cát đại lợi.

9/ Quý Sơn – Đinh Hướng.

Chính Hướng có tên là Chánh Lộc Long.

Chánh Lộc Long vị , hợp với tài lộc , con cháu quý hiển , vinh hoa, làm võ thần , xuất người trung lương hào kiệt , văn võ toàn tài , thống lĩnh vạn binh . Long này hoặc văn hoặc võ đời đời ly hương phú quý , trưởng phòng đại vượng , ngành giữa kém hơn , 4 vị quan tinh Tân Tuất , Lộc tại Nhâm Tý là Dưỡng Hướng Thủy quy Tuyệt tại Tốn Tị là đại cát lợi .

Như Càn , Khôn , Đinh sơn phong đặc triều ôm ấp , tất cát lợi . Nếu Thủy xuất ra Bính Ngọ là Phá Thai Thần , xung Lộc Tiểu Hoàng Tuyền , chủ bần tuyệt. Như hạ chính Quý Sơn đầu Long gặp sai thác chi vị , Long theo Trực hướng , sách rằng : Chính Quý tuy nhiên hảo , hậu đợi khó bảo toàn . Nghĩa là một đời con cháu đổi 2 họ, sinh nữ mà chẳng sinh nam, con dâu khóc đêm ngày , cuối cùng tuyệt hậu. Hướng này Thủy ra Khôn Thân cũng được cát – Là Đế vượng quy Tuyệt , Cứu bần Thủy pháp .

7 chú ý phong thủy hút tiền bạc vào nhà đừng nên quên

4.SỬU SƠN – MÙI HƯỚNG .

10/Sửu Sơn – Mùi Hướng.

Kiêm Quý Đinh 3 phân – Tên là Kim Khố Long .

Long này có phú mà ít quý, có vinh mà chẳng hiển. Nếu gặp Hỏa tinh chánh chiếu, người mạng Thổ phú, mạng Thủy trung bình, mạng Mộc cũng quý . Nếu Sơn Xung , Thủy sát thì xuất người làm đẹp. Như hạ Sửu sơn đầu Long , Đinh Sửu là Hướng , là Thủy Long – Thủy Hướng , Âm lai Âm thọ. Như Canh Thân Khôn Thủy lai triều , lưu Tốn xuất khứ – Dưỡng Hướng Tuyệt Thủy lưu, Canh Thân , Khôn Thủy chảy lại Minh Đường là cũng trước cổ mã , sau tinh kỳ.

Chia rằng Khôn làm cổ, Đinh là Lục tú. Bính là Thiên Mã, Tốn làm Ngự vệ, Ất làm cờ, tiểu Thần đáo trung đường là trung thần , nhập vào đại Thần là Tam triết ngự vệ khứ lưu vạn dặm, 3 năm đã phát tiền tài , năm Thân – Tý – Thìn sinh quý tử. 18 năm Lộc Mã thượng vệ, chức cư lưỡng vị chí công hầu, 7 đời con cháu cập đệ đăng khoa .

Hoặc ra Tuyệt Thủy là Khôn Thân, Mộc Cục , Mộ Hướng cũng đặng cát. Thủy đảo hữu xuất canh, là nghịch Thủy chi Long, chủ tử vong , nhiều tai họa.

11. Sửu Sơn – Mùi Hướng.

Chính Hướng – Tên là Du sát Long.

Con cháu theo đó tất nghiêng ngả, nguy nan, vì nghiệp lực sát phạt này. Long này chủ ly hương thất Tổ, người có mạng Kim chẳng hợp, xuất ngoại , chết bạo, con cháu mổ xẻ chẳng toàn .

Như hạ chính Sửu sơn, Long đầu Tọa Kỷ Sửu – Hướng Kỷ Mùi, Long Hỏa , Hướng Hỏa, thuần ẩn chi Long. Kinh rằng : Tẩu mã diêu đầu nam phi nhơn. 5-7 phần hung , chỉ 1-2 phần cát, nên hung họa chẳng dời thân.

Nếu biết được rõ quyết của Tăng Công và Dương Công này – Ấy là Dương , Tăng tái sinh , sau 30 năm tuy có lợi, nhưng chủ ly hương, bệng tật sát thân. Năm Dần – Ngọ – Tuất thấy ứng nghiệm điều hung . Vậy nên Long này đa hung , không nên hạ táng . Nếu Thủy ra Khôn Thân hay Tốn Tị thì khả dĩ còn táng được, vì Mộ , Dương hướng cũng được cát tường.

12/ Sửu Sơn – Mùi Hướng.

Kiêm Cấn Khôn 3 phân – Tên là Kim Ấn Long. Kim Ấn Long tất định uy quyền . Kim Ấn là quan võ chức , khí hùng dũng, vị ấy tinh thần nhập miếu, dáng uy vũ trăm vạn trấn Man Nhung ( Làm khiếp sợ các dân tộc thiểu số ).Long này chủ xuất tướng quân, tay nắm binh quyền vạn dặm, ngành trưởng và út vượng. Nếu là giả Long, chủ cướp bóc , đồ tể .

Như hạ Huyệt 7 phân Sửu sơn , đầu Tọa Tân Sửu – Hướng Tân Mùi, là Thổ Long , Thổ Hướng, thuần ẩn chi vị tất cát .

5. CẤN SƠN – KHÔN HƯỚNG.

13/Cấn Sơn – Khôn Hướng.

Kiêm Sửu Mùi 3 phân – Tên là Thiên Thọ Long.

Long ấy đại cát , được Long Thủy Cửu tinh nhập miếu, ngành trưởng và giữa vượng tướng, sinh người có mạng Kim và Thủy Thực lộc vạn chung, người mạng Thổ đại phú, nếu giầu thì chỉ 1 đời là hết .

Như hạ Huyệt 7 phân Cấn sơn đầu, Thủy lưu Đinh , làm Mộc cục thượng cát. Hướng này hợp Thuỷ cục. Thủy ra Mộ khố là Sinh Hướng, 12 năm sinh quý tử, 18 năm đại phú, 24 năm ngành ngành đại vượng, công hầu khanh tướng , gần bậc Đế Vương , 5 đời con cháu đại vượng .

Nếu Thủy ra Hỏa cục thì Bệnh Hướng, tất suy bại , gia đạo đa hung, ứng vào các năm Hợi – Mão – Mùi. Hướng này không hợp Kim cục.

14/Cấn Sơn – Khôn Hướng.

Kiêm Dần Thân 3 phân – Tên là Thiên Khánh Long.

Thiên Khánh Long là phúc tinh . Phải xem tọa vị như thế nào để luận ? Nếu như Hỏa tinh lại tương ứng thì cập nhị đệ chí trung thư ( Dưới Thượng thư ). Thúc vị tại Mão, Hỏa tinh tại Bính – Ngọ – Đinh , Long ấy phú quý đều trọn vẹn . Ngành giữa và út phát trước . Người mạng Thổ thực lộc , người mạng Hỏa quý nhân , mạng Thủy thì giầu.

Nếu như hạ Huyệt 7 phân Cấn sơn, đầu Tọa Giáp Dần – Hướng Giáp Thân – Thủy Long , Thủy Hướng, Dương lai , Dương tác , Lộc lai sơn đầu, thì người đặng phú quý . Mã đáo sơn Hướng , nhân đinh hưng thịnh . Hợp rộng rãi , có ao hồ ở Minh đường chứa nước .

Như Càn Tân , Canh Khôn , có Thủy triều , xuất Thủy tại Ất Thìn là thượng cách – Chính Sinh Hướng. Càn Nhâm làm Võ Khúc , Canh , Khôn , Đinh làm Tham Lang . Khôm làm nhất Dương , Tân làm Nhị Dương, Càn làm Tam Dương .

Sách rằng : Tam Dương Thủy lộ nhiều tiến lưu , đời đời con cháu phú quý tới Tam Công. Năm Thân – Tý – Thìn sinh quý tử . 12 năm đại phát . 24 năm phú quý lâm môn , 36 năm vị chí trung thư , tử tôn phú quý . Nếu Canh Dầu Thủy lai triều thì là Văn Khúc , Mộc dục quá Đường, chủ phiêu lãng ly hương, sản nạn , tự ải , ngỗ nghịch , nhiều bệnh tật , bại tuyệt .

15/Cấn Sơn – Khôn Hướng.

Chính Hướng – Tên là Thiên Văn Long.

Thiên Văn Long vị, nên xem xét cẩn thận , nếu phạm sát , một đời sẽ tuyệt người hiền lương, truyền để các thời Sư được biết . Chớ nên xem thường an táng Hướng này. Long này nếu 6 phương Lục Tú tôn quý, chủ bạch ốc xuất thân ( Nhà nghèo xuất thân hay tay trắng làm nên ), trở thành siêu quần chúng.

Cấn làm Mã, Khôn Thân làm Cửu Thiên phú ngũ Lộc , Tị làm Sung Thiên Lộc , Hợi làm Đại Lộc quý nhân , Ngọ làm Võ nghĩa , Tý làm văn nghĩa . Nếu không tại Bính lại gia Càn Tốn, phương sơn phối hợp, cần có Võ Khúc Thủy triều nhập quy, xuất khố tại Ất Thìn là Sinh Hướng , xuất Mộ thì phú quý.

Nếu xuất tại Tốn Tị, Bính Ngọ là Tuyệt , Thai – Tiên phú , hậu bần . Hướng này Kim mạng thực lộc, Thổ mạng phú quý .

Như hạ Huyệt tại Cấn sơn , đầu Tọa Thiên văn – Hướng Thiên Bửu – THổ Long , Thổ Hướng, trong Dương sinh Âm , Thủy xuất Tốn Tị Bính thì cũng tạm cát . Năm Thân – Tý – Thìn đại phát , một đời phú quý , trước tuyệt ngành trưởng , đời đời nuôi con nuôi- Vậy cát chẳng vẹn toàn . Cục này sai Thủy pháp , Hợi – Mão – Mùi tuyệt. Hoặc có giảm sút – Do vậy bảo chính Cấn khó đương hạ Táng là vậy .

6.DẦN SƠN – THÂN HƯỚNG .

16/Dần Sơn – Thân Hướng.

Kiêm Cấn Khôn 3 phân – Tên là Thiên Sùng Long .

Long này còn có tên là Bát lộ văn tinh. Nếu được Thủy Sinh , Vượng quy lưu ra Khôn Thân – Là Tuyệt Hướng , Tuyệt Thủy lưu khứ, chủ phú quý. Người mạng Thủy , Mạng Kim quý. Sơn đầu Long Tọa Bính Dần – Hướng Bính Thân – Là Hỏa Long , Hỏa Hướng , Âm lai , Âm thọ. Như thấy Giáp, Ất , Tốn , Bính , Đinh Thủy triều nhập Minh đường , lưu xuất ra Canh Dậu thì cũng cát tường. Vì Tuyệt Hướng Thủy ra Thai là Lộc Tồn tiêu thủy – Cứu bần Thủy pháp.

Ất làm cờ , Bính làm mã, Đinh làm cờ , Khôn làm trống, Canh làm mã, Tân làm Hoa biểu , Càn làm ngự vệ , Kinh rằng : Kỳ triều binh mã thượng ngự lai – Là 5 cái quý nhân đài . Ba năm sinh quý tử , người tuổi Dần – Ngọ – Tuất 6 năm phát đạt , mọi ngành hưng vượng .18 năm là vị của Văn Khúc , 24 năm đánh trống nghinh quan , 9 đời con cháu áo tía quan cao .

Nếu Thủy quy về Bính Ngọ , Tốn Tị mà ra , là Sinh Hướng bị phá cục tất hung . Sung quân , hỏa hoạn bại vong. Hướng này Thủy cục nên nước nên ra Ất Thìn , chính Mộ khố là thượng cát .

17/Dần Sơn – Thân Hướng.

Chính Hướng – tên là Thiên Quý Long.

Thiên Quý Long, gặp được hướng này có Long Huyệt rất tốt, đời đời làm quan , giầu tựa Thạch sùng. Vàng bạc đầy nhà , lại con cháu đăng khoa cập đệ , quan cao lộc hậu . Long này nếu được Cửu tinh nhập miếu , chủ đại phú quý . Người mạng Thủy phú quý song toàn , mạng Kim cũng phú.

Như hạ Huyệt chính Dần sơn , Tọa Mậu dần – Hướng Mậu Thân , Thổ Long , Thổ Hướng , Dương sơn , Dương Huyệt, chân Long sinh chân Lộc , Mã , Thủy lưu xuất Khố Ất Thìn của Thủy cục , lại được Tham Lang Thủy lai triều – Là Tam Dương Thủy triều đường , xuất đại quan , phú quý , tể tướng , Trạng nguyên chi vị.

Càm làm trống , Canh làm cờ , Khôn làm Ngự vệ , Ngọ làm mã bên thân , 3 năm sinh quý tử. năm Thân – Tý – Thìn thấy ứng nghiệm điềm lành , 6 năm giầu lớn , 24 năm xuất quan , 26 năm đại vượng , 9 đời quang vinh hiển hách . nếu Thủy được Càn làm Hỏa cục , Bệnh hướng , là nghịch Long chi địa , đại hung chớ dùng.

18/Dần Sơn – Thân Hướng.

Kiêm Giáp Canh 3 phân – Tên là Thiên Thụy Long.

Thiên Thụy Long là hướng tốt , ngôi vị cao sang quý khách , tinh thần nhập miếu , do vậy nam được công hầu , nữ chí cung phi , con cháu quan cao lộc cả. Long này cùng với Lộc , Mã đồng cư tại Thân vị . Văn quyền ở Ngọ , Thủy lưu Khôn hợp Đế tinh chi cách , chủ Tể tướng , Trạng nguyên . Người mạng Kim , Thủy xuất quý , Thổ mạng xuất phú.

Nếu như hạ Huyệt 7 phân Dần sơn , Tọa Canh Dần – Hướng Canh Thân – Mộc Long, Mộc Hướng . Càn Hợi Tân Thủy triều lai xuất ra Khôn Đinh , tức Tham Lang khứ Lộc Tồn là thượng cát .

Khôn làm trống , Tân làm mã , Càn Thiên môn , Tốn , Bính , đinh hội cục thời làm Thiên vận , Bính làm hồng mã quý nhân. 9-36 năm xuất đại phú quý , nam làm công khang , nữ làm mệnh phụ phu nhân , danh tiếng vang lừng, tên đề bảng vàng , con cháu tú lệ . Tên rằng : Tứ Hướng Lộc Tồn Thủy lưu phi , nhi tông cá cá cẩm y hồi. ( Bốn phương Lộc Tồn Thủy xuất – Lập Hướng Tuyệt , Thủy ra Thai ) con cháu lớp lớp áo gấm về làng . nếu Thủy xuất ra Hỏa cục là lưu phá Tham Lang Bệnh Hướng tất đại hung.

7.GIÁP SƠN – CANH HƯỚNG.

19/Giáp Sơn – Canh Hướng.

Kiêm Dần Thân 3 phân – Tên là Thiên Đoạn Long.

Còn gọi là Thiên Sát Long đa hung , lắm hoạn nạn , bại tuyệt. nếu táng có Tử vi , con dâu qua năm chẳng toàn . Long này hung nhất. Được Sơn , Thủy đẹp , còn châm chước an táng tạm, nếu Sơn , Thủy thô xấu , lập tức hung bại , chủ ly hương , hình thương nhân mạng , trưởng phòng bại tuyệt trước , xuất người bệnh thũng là có dấu hiệu hung.

Nếu hạ Huyệt 7 phân Giáp sơn , Tọa Nhâm Dần – Hướng Nhâm Thân- Kim Long , Kim Cục , gặp Dần tất tuyệt . Cấn long có Huyệt chân đích , Thủy xuất khứ tại Canh Dậu là Thai Hướng Thai phương có thể phát phú , vượng tài , nhưng chẳng được dài lâu. Chung quy hướng này an táng nên cẩn thận . Hướng này hợp nhất Thủy Khố tại Tân Tuất là hóa Tử vi Vượng Hướng , hoặc Quý Sứu là chính vượng hướng , được vài đời cát tường.

20/Giáp Sơn – Canh Hướng.

Chính Hướng – Tên là Dương Các Long.

Long này cũng an táng được , nhà xuất tăng ni đạo sĩ tất an cư vậy. Long này Chấn làm linh khí rất hợp với tăng đạo .Như hạ Huyệt chính Giáp long , Long hướng tinh thọ đều không biến , nếu lưu xuất Khôn Thân là Hoàng Tuyền sát nhân đại hung .

Nếu có Thủy Đế vượng , Tham Lang lai triều , cũng chỉ vượng 12 năm y lộc , con cháu được 1 đời , bán hết ruộng vườn , trước hại trưởng nam , tử tôn hao tán , gia nghiệp bại vong . Hướng này hợp Thjủy ra Tân Tuất, hoặc Thủy ra Quý Sửu là đại cát.

22/Giáp Sơn – Canh Hướng.

Kiêm Mão dậu 3 phân – Tên là Văn Tất Long.

Như hạ Huyệt 7 phân Giáp sơn – Tọa Ất Mão – Hướng Ất Dậu – Là Thủy Long , Thủy Hướng , Dương lai Dương thọ, Minh đường có ao hồ , tứ Thủy lai triều . Đinh hợp Khôn Thủy triều nhập Minh đường , khuất khúc như chữ chi , xuất ra

Canh dậu hợp được Văn Khúc là cát , chủ phú quý lâu dài , 6 năm đại quý nhân , năm Thân – Tý – Thìn sing quý tử , lâu đài ngự tửu , cân bào rực rỡ . Nếu Thủy xuất ra Nhâm thì phá Vũ Khúc , Tham Lang là nghịch Long chủ tuyệt . Hướng này Thủy xuất Tân Tuấtv, Quý Sửu thì cát.

8. MÃO SƠN – DẬU HƯỚNG.

22/Mão Sơn – Dậu Hướng.

Kiêm Giáp Canh 3 phân – Tên là Văn Tú Long.

Văn Tú Long thường xuất quý nhân làm quan cao , đời đời là danh nhân , danh thần . Ngũ hành nhập miếu do thiên nhiên định , tâm can như sắt đá , phò tá Thánh quân . Long này chủ xuất văn chương học sĩ , sinh người giỏi nho , y , lý số , đời đời vinh hoa , trâu ngựa , điền trang rất vượng . Người mạng Thủy phú quý, ngành út phát khoa giáp trước .

Như hạ Huyệt 7 phân Mão sơn – Tọa Đinh Mão – Hướng Đinh Dậu – Là Hỏa Long , Hỏa Cục , Âm lai Âm thọ . Thủy ra Tân Tuất là Hỏa Cục thượng cát – Hóa Tử vi Vượng Hướng .

Bính , Đinh , Tốn Thủy lai triều Minh đường , Thiên thượng Vũ Khúc tại Bính làm mã, Đinh là ngựa truy phong , Khôn làm trống , Tân làm mã, Càn là ngự vệ , tất được quan quý . Quý làm địa kiến , 6 năm phát . Năm Dần – Ngọ – Tuất sinh quý tử . 8-24 năm xuất quý nhân , đời đời quan lớn tại triều . 5 đời điền trang dư dả , nhân đinh hưng vượng.

Nếu Thủy xuất Khôn Thân là phạm Hoàng tuyền sát nhân đại hung.

23/Mão Sơn – Dậu Hướng.

Chính Hướng – Tên là Thanh Bửu Long.

Long này rất khác lạ xuất người đại nghĩa , trung trinh , tiết phụ, trung thần. Ngành út được vượng tướng.

Như hạ 7 phân chính Mão – Tọa Kỷ Mảo – Hướng Kỷ Dậu – Thổ Long , Thổ Hướng , trong Âm sinh Âm thì phía trước nên có ao hồ chứa vạn Thủy , Thủy khẩu chẳng lọt thuyền , 2 bên bằng phẳng , rộng lớn là thượng cát . Nếu như Tham Lang Thủy triều nhập Minh đường, qua Canh Dậu khuất khúc mà ra thì nhân đinh vượng , gần bậc quý nhân . Hoặc Thủy ra Tân Tuấtlàm Hỏa cục ,

Hướng Hóa Tử vi Vượng . Hay như Thủy ra Quý Sửu là chính Vượng , Hướng cát tường , cũng hay nhất cử đăng khoa. Đất này táng về sau đại phú. Năm Thân – Tý – Thìn sinh quý tử , 12 năm gia sản chất chồng, 24 năm phát tài cực phú . Nếu Thủy phá Tham lang , Vũ Khúc là nghịch Long chi địa , tất hung chớ nên an táng.

24/Mão Sơn – Dậu Hướng.

Kiêm Ất Tân 3 phân – Là Thiên Chấn Long. Thiên Chấn Long là chánh tín , chấn ở trung cung, đẹp như gấm thì thượng phẩm . làm quan khanh tướng , đời đời thọ phong. Long này đại quý mà không đại phú , chỉ được 3 đời rồi sau suy bại .

Như hạ Huyệt 7 phân – Tọa Tân Mão – Hướng Tân Dậu – Là Mộc Long , Mộc Hướng , Âm Lai Âm Thụ , Thủy lưu từ Khôn Thân xuất ra làm Thủy cục ,là Mã thượng quý nhân , cát tường.

Tốn làm quý nhân , Bính làm mã, năm Thân – Tý – Thìn 3 ngành đều phát phước , 3 đời con cháu chủ quý hiển , làm quan ngũ phẩm. Thủy chảy về Tân Tuất là cát . Nếu chảy về Càn Hợi là xuất khứ – Là Tử Hướng Tuyệt Phương thì gia đạo suy vi , con cháu ngỗ nghịch , bất hiếu , bần tiện , tự ải..

9.ẤT SƠN – TÂN HƯỚNG.

25/Ất sơn – Tân Hướng.

Kiêm Mão Dậu 3 phân – Tên là Kim Khí Long.

Long tinh Kim khí là như thế nào ? Thiên môn nếu thấy tinh này nhập miếu , phú quý song toàn , nhiều tài lộc . Long này nếu được cát Thủy Hợi làm Thiên môn , Hỏa tinh cùng chiếu , chủ phú quý song toàn , người mạng Thủy và Hỏa phú quý nhất .

Như hạ Huyệt 7 phân Ất sơn – Tọa Quý Mão – Hướng Quý Dậu – Là Kim Long , Kim Hướng , Âm Long Âm Hướng , nhập Dương thọ . Bên trong có ao hồ như hình hoa sen nổi , được Thủy quy triều là thượng cát .

Như Tốn , Bính , Đinh , Canh , Tân triều nhập , xuất khố tại Canh Dần là Vượng Hướng , Mộ Thủy khứ , đại quý cách , đinh tài đều lợi.

Như Canh Dậu Tân là thiên thượng Vũ Khúc , Đinh , Khôn làm tiểu mai hoa , Tân làm Mã, Càn làm ngự vệ , Nhâm làm Thiên Lộc . Phàm tạo táng năm đầu trung bình , 3 năm đã phát . Năm Tị – Dậu – Sửu sinh quý tử , 18 năm đại phát , nhà cao cửa rộng , thi đỗ cao , chức đến Tam Công, 9 đời vinh hoa . Hướng này còn hợp Mộc Cục , Dưỡng Hướng , Thủy ra Tuyệt ở Khôn Thân cũng được cát . Nếu Thủy phá Tham Lang , Vũ Khúc là bại tuyệt chi địa , không nên an táng.

26/Ất sơn – Tân Hướng.

Chính Hướng – Là Thiên Đắc Long.

Thiên Đắc Long cung hữu sở nghi, Kỳ tinh năng cát hựu năng đồi.

Tinh này bán cát bán hung , thay tên đổi họ thì người hưng vượng , nhà giầu có con cháu lừa dối , bị kinh khi. Thiên Đắc lúc hưng lớn mà bại cũng lớn.

Nếu Thủy chảy về phương Đinh 1 đờ là Tuyệt . Nếu chảy về Khôn Thân mà ra , cũng có thể xuất quý , nhưng phải thay tên đổi họ , làm thuốc hay bói toán mà nên cơ nghiệp . Trung nam và người mạng Thủy được thực lộc nhưng chẳng lâu dài . Người mạng Hỏa chủ tuyệt .

Như hạ Huyệt chính Ất sơn , đầu tọa Thiên Đức , cùng hợp phá Lộc , là Mộc Long Kim Hướng không biến , cũng có quý chức . Nếu Thủy chảy về hướng Bắc là Hỏa cục , Mộ Hướng , xuất khố nơi Càn , chính Mộ Hướng thì được phát tài vượng đinh , 6 năm sinh quý tử 12 năm đại vượng , 1 đời làm quan lớn . 18 năm sau sát ngành trưởng rồi bại tuyệt , ứng vào năm Dần.

Nếu Tân , Tuất, Càn, Hợi,Nhâm Thủy triều làm Tham Lang là Mộc Cục , Dưỡng Thủy , Thủy quy Khôn Thân là Tuyệt phương cũng là quý cách , xuất quý hiển. Nếu Tuất, Hợi , Nhâm Thủy lai triều , xuất ra Tốn Tị , Bính Ngọ là Thủy Cục , Quan đới Hướng , 1 đời là tuyệt.

27/Ất sơn – Tân Hướng.

Kiêm Thìn Tuất 3 phân – Tên là Hãm Thọ Long.

Long lớn có quyền biến , nếu cát thì binh quyền vạn dặm , nếu hung thì bại vong Quốc gia . Ngành trưởng và giữa phát , ngành út kém. Người mạng Thủy hưởng thực lộc .

Nếu như hạ Huyệt 7 phân Ất sơn – Tọa Giáp Thìn – Hướng Giáp Tuất – Là Hỏa Long , Hỏa Hướng , Thủy lưu xuất ra Càn Hợi là Mộ Hướng Tuyệt Thủy lưu, đinh tài đại vượng , là thượng cát . Tân làm mã, Càn làm ngự vệ , Nhâm làm tay lái xe , Quý làm Hoa biểu . 3 năm đã tấn phát đế 12 năm. Càn là Thiên môn , chủ tấn quý . Năm Dần – Ngọ – Tuất sinh quý tử , ngành trưởng và giữa đại vượng . 7 đời được vinh hoa phú quý . Nếu Thủy lưu Canh và Tân 3 đời là hết tuyệt tận vì lưu chí Lộc Tồn vậy . Hướng này còn lập được hướng Dưỡng Thủy ra Khôn Thân của Mộc Cục là cát tường.

7 chú ý phong thủy hút tiền bạc vào nhà đừng nên quên

10. THÌN SƠN – TUẤT HƯỚNG.

28/Thìn Sơn – Tuất Hướng.

Kiêm Ất Tân 3 phân – Tên là Hiền Phú Long.

Hiền Phú Long tài lộc có lúc, nếu xem Cửu tinh nhập miếu thuận thời tường quang chiếu , vinh hoa 9 đời . Nghịch thời 1 đời bại tổ tông . Long này chủ phú quý , Cửu tinh nhập miếu , người mạng Thủy phát đạt , ngành giữa thực lộc . Năm Thân – Tý – Thìn ứng điều lành.

Như hạ Huyệt 7 phân Thìn sơn – Tọa Bính Thìn – Hướng Bính Tuất – Là Thổ Long , Thổ Hướng , nên có hồ rộng chưa nước tụ ở Minh đường , bên tả Khôn, Canh vào thời làm Truyền Tống , Tham Lang . Bên hữu Nhâm Quý Cấn vào làm Vũ Khúc . Tam cung Thủy triều xuất cao nhân , phò tá Đế vương .

Nếu Thủy lưu Khôn Canh xuất ra Càn Hợi – Là Hỏa cục , Mộ Hướng , Tuyệt Thủy lưu , xuất đời binh nghiệp , chủ ly hương và giầu có . Nếu Lộc , Mã không khởi thì giầu sang quyền quý không bền . Dược lai Long hình thức tốt , điểm đích Huyệt, Mộ hướng Thủy ra Tuyệt là đắc vị .Hướng này Thủy ra Khôn Thân của Mộc cục là Tuyệt phương, Dưỡng Hướng đại cát tường.

29/Thìn Sơn – Tuất Hướng.

Chính Hướng – Tên là Long Đức Hướng.

Long Đức tinh vị rất kỳ lạ , phú quý song toàn. Long có biến hóa nên vượng nhân đinh , được Cửu tinh nhập Miếu , chủ đại quý cách , phát nhất trung nam. Người mạng Kim phát cả phú lẫn quý, Mạng Thổ được thực lộc, mạng Hỏa bình bình . Như hạ Huyệt 7 phân chính Thìn sơn – Tọa Mậu Thìn – Hướng Mậu Tuất – Mộc Long , Mộc Hướng . Thủy xuất Khố tại Khôn Thân là Mộc cục , Dưỡng Hướng , Thủy quy Tuyệt là đại cát . Thủy lưu tại Càn Hợi , Tân Tuất là Tham Lang, Canh Khôn làm Lộc , Tân làm lộc mã, Canh làm cờ , Khôn làm trống , Đinh làm mã ngự vệ , lại làm tấn Thần chi hương , tạo táng được sớm phát đạt .Ứng nghiệm vào các năm Hợi – Mão – Mùi , sinh quý tử ,6 năm ngành giữa tay trắng làm nên sự nghiệp .9 đời phát đạt nhân đinh , 3 đời phát công hầu.

Nếu Thủy xuất khứ tại Nhâm Tý là Thai của Hỏa cục , là nghịch Long , Thủy xung phá Tham Lang , đại bại nhân đinh.

30/Thìn Sơn – Tuất Hướng.

Kiêm Tốn Càn 3 phân – Tên là Tấn Đức Long.

Tấn Đức Kim tinh , làm quan võ chức , chủ nhân xuất binh quyền , hộ Quốc an Bang, làm hiền thần . Long này Long đầu xuất võ tướng , Long giữa xuất gian hùng, Long hạ chủ hung.Trưởng phòng bị sát , ngành giữa phát đạt , ngành út bình.

Như hạ Huyệt 7 phân Thìn sơn – Tọa Canh Thìn – Hướng Canh Tuất – Kim Long , Kim Hướng , Âm kết Âm Huyệt . Thủy lưu từ Lâm Quan , Vượng , Suy phương , chảy về xuất Khố ra Giáp là Kim Cục Suy Hướng , Mộc dục tiêu Thủy cũng cát . Nếu Sơn hợp quý cách , Canh làm Lộc , tân làm Mã , Càn làm ngự vệ, Giáp làm xe ngự , Quý làm cờ , Cấn làm trống , Lộc mã thượng ngự giai , làm quan đến tướng hay Trạng nguyên , 3 năm sinh quý tử. Các năm Tị – Dậu – Sửu ứng nghiệm , 9 năm đại phát , 18 năm tiểu phú tiểu quý ,24 năm xuất đại quan . Giáp Mão Thủy lưu chí Cấn Nhâm Càn Tân , xuất khứ tại Khôn Thân là Mộc cục , Tuyệt Thủy lưu, Dưỡng Hướng đinh tài đều phát , phú quý tột bực . Nếu Thủy ra Canh Dậu là không hợp vì xung phá Thai Thần , xung Lộc Tiểu Hoàng Tuyền , đa hung.

11. TỐN SƠN – CÀN HƯỚNG.

31/Tốn Sơn – Càn Hướng.

Kiêm Thìn Tuất 3 phân – Tên là Phục Khí Long.

Phục Khí Long có khác lạ , việc khác lạ này ít người biết , có lúc quyền quý ngang triều đình , chẳng lâu thì đã bại . Long này được Cửu tinh nhập Miếu thì võ chức lừng danh . Nếu gặp Sơn , Thủy hung thì có bệnh ôn hoàng , tổn thương các loại .

Như hạ Huyệt 7 phân Tốn sơn – Tọa Nhâm Thìn – Hướng Nhâm Tuất – Là Thủy Long , Thủy Hướng . Nên có Thủy tụ giữa Minh đường mới cát , Minh đường mà Thủy đi thẳng tất hung.

Thủy xuất ra Đinh Mùi ( Mộ ) là đại cát , Mộc cục , Sinh hướng đa tử tôn , lộc tài đều vượng , tuổi thọ cao. Thủy ra Tân Tuất là Tuyệt xứ phùng Sinh cũng cát . Nếu Thủy ra Khôn Thân là Tuyệt phương phá Sinh , xung Vượng lắm bệnh tật , con cháu sớm bại tuyệt , ứng hung vào các năm Thân – Tý – Thìn , Thủy ra nơi này không thể xem nhẹ mà dùng.

Nếu Thủy xuất ra Dần Giáp là Kim cục , Bệnh Hướng là bại tuyệt đa hung , cách này không nên dùng.

32/Tốn Sơn – Càn Hướng.

Chính Hướng – Tên là Tử Thụ Long .

Tử Thụ Long cung phúc quý vẹn toàn .Đinh xuất công khanh , bái tướng phong hầu. Long này mừng giận thất thường , lắm tài năng nhưng hung ác , nên có phú quý mà chẳng lâu dài , ngành trưởng và giữa được vượng ; người mạng Thủy , Thổ phát phú.

Bốn vị : Quý nhân tại Dậu , Mã tại Ngọ, Lộc tại Càn Hợi , Lộc Mã tại Giáp tức là cùng chánh Lộc tương chiếu , uy nghi quan tinh , tại Tuất làm quan tinh , thừa Mã tại Tân , lại càn , cấn có phong sơn đẹp . Phối an Thủy lưu Tân Canh Khôn xuất Khố ra Đinh , làm Sinh Hướng , chủ anh em cập đệ đăng khoa , thiếu niên phát vinh hoa lỗi lạc , cách này ứng nghiệm rất nhanh.

Như hạ chính Tốn sơn – Đầu Tọa Tử Thụ- Hướng hiệp phước tinh , Kim hướng không biến . Theo sơn đầu Thủy Càn Hợi đến Nhâm xuất là Hỏa cục , Tuyệt Hướng , Thai phương , là Lộc Tồn tiêu Thủy phú quý , tuổi thọ cao , nhân đinh vượng.

Nếu Càn Hợi Nhâm Thủy lưu xuất ra Canh Dậu – Sinh Hướng , Thủy ra Thai , nếu có phú quý cũng không lâu , 24 năm thoái bại , nam nữ mê hoa đắm sắc , điên đảo thất thường , mọi việc khó đương . Năm Thân – Tý – Thìn thấy thoái bại.

33/Tốn Sơn – Càn Hướng.

Kiêm Hợi Tị 3 phân – Tên là Quan Dưỡng Long.

Còn gọi là Quan Khố Long , Long cư nơi quan lộc , có điền viên , sản nghiệp xung túc, nhân đinh hưng vượng, đất này gồm cả phú và công khanh . Long này được Cửu tinh nhập Miếu xuất võ chức , 2 đời vạn sự như ý , ngành trưởng và giữa vượng tướng.

Như hạ Huyệt 7 phân Tốn sơn – Tọa Ất Tị – Hướng Ất Hợi- Hỏa Long , Hỏa Hướng , Dương lai cùng thọ , Thủy lưu Tân Canh Khôn ra ở Mộ là Mộ cục , Sinh Hướng , Mộ Thủy lưu là thượng cát . con cháu quý hiển , đại vượng nhân đinh, 3-9 năm điền trang hưng vượng , kho lẫm xung túc . Năm Dần – Ngọ – Tuất sinh quý tử , con cháu 9 đời lương thiện , ấm no hạnh phúc . Nếu Thủy lưu Nhâm Quý xuất ra Càn – Là Tuyệt Hướng Tuyệt Thủy cũng được trung cát . vì xuất Lộc vị , khoa bảng trung bình , giỏi văn chương , chỉ xuất thày giáo, ngành y lý , bốc dịch giỏi . Nếu xuất ra Tân Tuất là hướng Tuyệt xứ phùng Sinh cũng đại cát lợi.

12. TỊ SƠN – HỢI HƯỚNG.

34/ Tị Sơn – Hợi Hướng.

Kiêm Tốn Càn 3 phân – Tên là Thọ Sát Long. Long cung Thọ Sát chẳng được hay. Làm nhà an mộ lắm người hư, Nếu có nhân đinh ngàn nhân khẩu. Vài năm tuyệt diệt cũng bằng không.

Long này được Cửu tinh nhập Miếu thì phát lên suy liền , ở nơi khác còn khá . Như hạ Huyệt 7 phân Tị sơn – Tọa Đinh Tị – Hướng Đinh Hợi – Thổ Long , Thổ Hướng , Dương lai Dương thụ . Như Thủy lưu từ Càn Hợi , Tân Tuất xuất ra Đinh Mùi – Là Tham Lang Thủy lai triều , xuất tại Mộ khố Đinh Mùi – Là Sinh Hướng , Mộc cục thượng cát .

Nếu chảy ra Tuyệt , Thai 1 đời phát rồi Tuyệt. Như Càn Hợi Thủy triều ra Cấn là Bệnh Hướng , Tuyệt Thủy lưu , phá cục chẳng lành , phải thay tên đổi họ mà sống , tranh tụng , bệnh tật , mọi ngành mọi nhà hung.

35/ Tị Sơn – Hợi Hướng.

Chính Hướng – Tên là Đức Hóa Long.

Đức Hóa Long , hiệu Quý Long, làm Quý cung tinh . Được Cửu tinh nhập Miếu, nhà cửa phúc lộc lâm môn , ngựa xe vạn chung . Long này chủ văn chương phát đạt , đời đời cập đệ đăng khoa, mọi ngành mọi nhà đều phát .

Như hạ Huyệt chính Tị sơn – Tọa Kỷ Tị – Hướng Kỷ Hợi – Là Mộc Long , Mộc Hướng , Dương lai Dương thọ , Thủy lưu từ Canh , Tân , Khôn xuất ra Đinh là thượng cát vì Sinh Hướng , Mộ Thủy lưu của Mộc cục.

Nếu Giáp , Cấn , Quý , Nhâm Thủy triều về là đại quý cách . Tân làm mã, Canh làm cờ , Khôn ngự vệ . Nếu được cả cách như trên phú quý vẹn toàn , quan cao chức trọng , 6 năm đại phát . Năm Hợi – Mão – Mùi sinh quý tử . Chủ sự ôn hòa , 18 năm sinh quý hiển , 24 năm xuất Tam công, ngũ phúc lâm môn , 9 đời con cháu sang giầu.

Nếu Thủy xuất ra Giáp Mão , Cấn Dần , Quý Sửu – Là Kim cục , Bệnh Hướng thời phá cục , nghịch Long chi địa đại hung . Hướng này Thủy nên xuất ra Nhâm hay Tân làm Hỏa cục đại cát.

36/ Tị Sơn – Hợi Hướng.

Kiêm Bính Nhâm 3 phân – Tên là Ngự Vệ Long .

Kim tinh Ngự Vệ là cung quý nhân , vượng về văn võ và lộc vị, người táng ở cung vị này tài lộc xung mãn , chức tước gia phong . Được Long cách lớn , 9 đời hưng vượng , Long cách nhỏ cũng 5-7 đời hưng vượng hiển quý. Nếu Long tinh bị lạc độ 1 đời bại tuyệt .

Như hạ Huyệt 7 phân Tị sơn _ Tọa Tân Tị – Hướng Tân Hợi – Là Kim Long , Kim Hướng , cung Âm tụ Âm , Thủy lưu từ Càn Hợi , Quý Sửu đều quy về Nhâm Tý mà ra là Hỏa cục , Thai Thủy , Tuyệt Hướng – Là Lộc Tồn tiêu Thủy , Cứu bần Thủy pháp , đời đời xuất anh hào.

Hoặc Thủy xuất khố tại Đinh Mùi làm Mộc cục , Sinh Hướng là thượng cát , 3 năm phát lớn , các năm Tị – Dậu – Sửu sinh quý tử , 12 năm phát tài . nếu được cả Đế vượng, Trường sinh Thủy triều lai , chủ đại phú đại quý, hậu nhân vinh hiển 9 đời , nhân đinh đại vượng.

Nếu Thủy ra Khôn Thân , Canh Dậu là nghịch Long chi địa tất tuyệt. Hướng này kị nhất Thủy xuất khố Kim cục , Bệnh Hướng đa hung.

Cát Hung 24 Sơn Hướng Nhà Vận 8

6 hướng tốt vận 8: 1.Càn sơn hướng Tốn: hướng về chính giữa Đông Nam. 132 đến 138 độ 2.Tốn Sơn hướng Càn: hướng về chính giữa Tây Bắc. 312 đến 318 độ 3.Sửu Sơn hướng Mùi: hướng về Tây Nam lệch Nam. 207 đến 213 độ. 4.Mùi Sơn hướng Sửu: hướng về Đông Bắc lệch Bắc. 27 đến 33 độ 5.Tỵ Sơn hướng Hợi: hướng về Tây Bắc lệch Bắc. 327 đến 333 độ 6.Hợi Sơn hướng Tỵ: hướng về Đông Nam lệch Nam. 147 đến 153 độ

Tương đối: Song tinh hội toạ

Xấu: – Nhà “Thượng sơn hạ thủy” (bệnh nhiều tật lắm) – Nhà “song tinh đáo tọa” (phá tài) – Nhà “song tinh đáo hướng” (bệnh tật)

Hạ nguyên Bát vận, Bát bạch Thổ là vượng tinh đương lệnh, chủ về đại cát: Cửu tử hoả (9), Nhất bạch Thuỷ (1): là sao sinh khí (tốt) Nhị hắc Thổ, Tam bích Mộc: là sao suy tử, chủ đại hung. Tứ lục Mộc, Ngũ hoàng Thổ, Lục bạch Kim: là sát tinh, chủ hung hoạ. Thất xích Kim tinh (sao 7) là thoái khí tinh, không hung không cát. Bát bạch là Cấn, là sinh môn tại vị trong cách cục Kỳ môn. Sinh môn là Tài, vì vậy Bát bạch chủ về tiền của, gọi là Kim khố.

Nhà Ngọ sơn Tý hướng (355.5 – 4.50) độ

Song tinh hội toạ …

Nhà tọa Ngọ sơn Tý hướng và Đinh sơn Quý hướng nên đặt phòng khách theo hướng nào! Phân tích trạch vận

Do đó, phương này có dòng nước phía xa, dòng nước nhỏ hoặc nơi trũng, chủ về vượng tài. Nếu có đỉnh núi hình thế thô xấu, chủ về tài suy, có hoả hoạn.

* Cung Cấn: Thất xích, Cửu tử bay đến. Phương này nên bằng phẳng, phương xa có thể có núi nhỏ nhưng không nên có ao, dòng nước lớn, nếu không sẽ có tai họa hồi lộc, bất lợi cho thiếu nữ.

* Cung Tốn: Tam bích, Tứ lục bay đến, là tổ hợp suy tinh. Phương này nên bằng phẳng, tầm nhìn rộng. Lại có sơn tinh Tứ lục và Nguyên đán bàn trùng điệpphạm phục ngâm. Phương này có núi hoặc góc nhàxung chiếu, chủ về bất lợi cho trưởng nữ, mắc bệnh bệnh gan, thần kinh, tật ở đùi. Nếu có nước chảy thẳng, nước bẩn, chủ về sinh người dâm loạn.

Hướng phòng khách

Phòng khách nên đặt ở cung Chính Tây

Nhà Đinh sơn Quý hướng (10.5 -19.5) độ, như cách cục trên

Mùi sơn Sửu hướng – 25.5 – 34.5 độ

Nhưng cục này sơn tinh mãn bàn phạm phục ngâm, cung Khôn phạm phục ngâm, cách phá giải là phương hướng cần có chỗ nướchình tròn, trong vắt, hoặc dòng nước phân thành 3 nhánh, cộng với cách cục Vượng sơn vượng hướng có thể phá giải tai ách của phản phục ngâm. Nếu hình thế dòng nước và thế núi tương phản, phương tọa có dòng nước, phương hướng có núi, chủ về bại tài, tật bệnh. Nếu phương tọa có dòng nước, chủ về bệnh ở dạ dày, đốt sống, tử cung, cánh tay. Nếu phương hướng có núi, chủ về bệnh ở chân, khoang bụng, bệnh tinh thần.

* Cửa nhà mở ở cung Cấn, vượng đinh vượng tài. Nếu mở ở cung Càn chủ về công danh phú quý lâu dài.

* Cung Khảm: Lục bạch, Cửu tử bay đến, Cửu tử là sao sinh khí. Phương này chỗ xa có núi cao nhưng có thể có thế đè nén, kỵ có nước. Nếu có dòng nước lớn như sống phân 3 nhánh, ao đầm chủ về bệnh ở não, xương, phổi, tim, dạ dày, chủ về tổn hại trung nam, sinh người con bất hiếu, nữ giới tâm địa xấu xa.

* Cung Đoài: Cửu tử, Tam bích bay đến, Cửu tử là sao sinh khí. Phương này có nước hình thế thanh tú, chủ về người thông minh, nhanh trí. Tam bích là suy tinh. Phương này có núi cao, hình núi hiểm ác, trong nhà có nam trộm cướp, nữ dâm đãng.

* Cung Ly: Là tổ hợp Thất xích, Nhất bạch, Nhất bạch Thủy tinh bay đến sơn vị, Nhất bạch là sao sinh khí. Do đó, phương này nên có Ngọ n núi phía xa, chủ về người giỏi biện luận, kỵ có dòng nước. Nếu có dòng nước chủ về người nhà dâm loạn, có bệnh phổi, tai, thận…

* Cung Càn: Là tổ hợp Nhất bạch, Tứ lục đồng cung, Văn xương tinh bay đến. Phương này có hình nước thanh tú, chủ về sinh bậc văn nhân, chí sỹ. Nếu có hình sát như nhà cũ nát, cầu, cây khô, chủ về đời sau khoa danh không vượng, có phụ nữ dâm tà.

* Cung Tốn, Chấn: Phi tinh của 2 cung là tể hợp suy tinh. Do đó, 2 phương vị này cần bằng phẳng, kỵ nhìn thấy dòng nước và thế núi. Nếu có dòng nước và thế núi mang hình thế hiểm ác, trong nhà phần lớn sinh nữ, người nhà có bệnh thần kinh, cổ, cánh tay, đốt sống lưng.

Hướng phòng khách

Xem phong thuy phong khach, phong khach theo phong thuy, phong thuy phong tro

Hướng phong thủy phòng khách tốt nhất nên đặt ở cung Tây Nam, Chính Bắc.

Khôn sơn Cấn hướng (40.5 – 49.5)

* Cung Khảm: Là tổ hợp Thất xích, Nhất bạch, Nhất bạch là sao sinh khí. Do đó, phương này có núi xa đẹp, có thể sinh người giỏi biện luận. Nếu có nước xung thẳng, chủ nam nữ dâm đãng, loạn luân, người nhà có bệnh tai, xương, phổi, thận.

* Cung Tốn: Tổ hợp Nhất bạch, Tứ lục đồng cung. Phương này nên có dòng nước, nếu là dòng nước tròn trịa, trong xanh, chủ về có người học rộng tài cao, tài vận hưng vượng. Nếu có Ngọ n núi hoặc vật thể kiến trúc có hình thế cao lớn, hiểm ác chủ về người nhà dâm tà, đam mê tửu sắc.

* Cung Chấn: cửu tử, Tam bích bay đến. Phương này có dòng nước thanh tú, trong xanh. Sau khi vào Cửu vận, tài vận hanh thông, sinh người thông minh nhanh trí. Nếu có sơn loan có hình thế thô ác, nam trộm cướp, nữ là phận kỹ nữ, người nhà phạm quan ty hình ngục.

* Cung Càn, Đoài: Là tổ hợp suy tinh. 2 phương này cần bằng phẳng, tầm nhìn rộng. Nếu có dòng nước vàthế núi với hình thế hiểm ác, người nhà có bệnh gan, tim, phổi, bị tàn tật, tai nạn xe cộ.

Hướng phòng khách

Hướng phong thủy Phòng khách tốt nhất nên đặt ở cung Đông Bắc, Chính Nam.

Hóa giải thế cục Dương trạch tọa Khôn hướng Cấn: :: Thế PHỤC NGÂM TOÀN CỤC đã có PHỤ MẪU TAM BAN: Nếu chỉ là đơn cung phục ngâm, bạn có thể không dùng đến các cung xấu để giảm nhẹ hung họa, song đây là cách cục Phục ngâm toàn cục, rất khó để hóa giải. Rất may là dương trạch có PHỤ MẨU TAM BAN, với cách cục này TỌA không TRIỀU MÃN sẽ phát huy tối đa tác dụng của nó mà không gặp bất kỳ trở ngại nào.

:: Thế THƯỢNG SƠN HẠ THỦY dùng cục TỌA không TRIỀU MÃN: TỌA không TRIỀU MÃN: * Nếu mở cửa ờ hướng Cấn, đó chính là sơn tinh, chủ tổn nhân đinh, lại gặp thêm Ngũ Hoàng đại sát, xấu Càng thêm xấu. Hướng Khôn, Ly, Đoài phải âm; tức là thấp, không mở cửa to. Nếu có làm cửa sổ ở các cung này, kích thước nên nhỏ thôi. Hướng Cấn, Chấn, Khảm phải Dương, nên có cửa số lớn. Cửa lớn nên mở ở cung Mão. Tuy cung Mão là thành môn nhưng có CỬu Tử sinh khí tin, vừa vượng tài, vừa tránh Sơn tinh không Hạ Thủy vừa mở cửa đúng cung Tài vị Bát vận (Cửu Tử) Tại hướng Khôn, xây bức tường dài và cao tượng trưng cho SƠN. Do hướng tinh đáo Khôn, nên mở cửa sổ để nạp tài khí. Tại hướng Cấn, chừa hành lang (sân) dài tạo vượng khí, dẫn đến cửa Mão cửu tử. Trước nhà (tay trái đứng từ trong nhà nhìn ra), nên xây hòn non bộ, trong hồ đẹp có nước chảy róc rách, nước phải thật sạch và trong, lắp thêm hệ thống ống cho nước chảy tuần hoàn suốt ngày, khiến cho Long Sơn mát mẻ, xa núi cũng chẳng xa, cách thủy mà gần Thủy. Lưu ý: nếu không gian không rộng rãi, nên xây giả 1 con đường quanh co vào cửa chính, tạo cảm giác hòn non bộ xa khỏi cửa chính. Với hòn non bộ này, hung hiểm sẽ giảm bớt, thậm chí Đinh tài vẫn phát. Nếu dùng TỌA không TRIỀU MÃN, tuy hóa giải được THƯỢNG SƠN HẠ THỦY, nhưng phụ nữ dễ mắc bệnh về tinh thần do căng thẳng, chứng khớp phong thấp và bệnh đốt sống. * Lưu ý: Sau khi hóa giải, vẫn còn phải nhờ thêm phước đức cao dày của các thành viên trong gia đình để chuyển hung hóa cát.

Thân sơn Dần hướng (55.5 – 64.5) – cách cục như trên

Thượng sơn hạ thuỷ

Cấn sơn Khôn hướng (220.5 – 229.5)

* Cung Chấn: Sơn tinh Cửu tử là sao sinh khí, phương này có núi ở xa, chủ về xuất hiện người thông minh. Nếu có nước thường bất lợi đố với trưởng nam, trung nữ.

* Cung Khảm: Hướng tinh Nhất bạch là Hạ nguyên bổ tinh. Phương này nên có nước chảy, hoặc có nước 3 nhánh. Nếu có núi cao hoặc công trình kiến trúc cao lớn thường gặp hung họa.

* Cung Càn, cung Đoài: 2 cung là tổ hợp Lục bạch, Tam bích và Thất xích, Tứ lục, đều là sao suy tử. 2 phương vị này nên bằng phẳng, không nên gặp núi, gặpnước, nếu không chủ về bệnh ở chân, thương tổn đến nhân đinh, bất lợi cho chi trưởng.

* Cung Tốn: Nhất bạch, Tứ lục đồng cung. Phương này có núi, gọi là văn bút, chủ về xuất hiện văn nhân, chí sỹ.

* Cung Ly: Phương này nên có dòng nước nhỏ. Nếu gặp núi thường bất lợi cho người già, đễ mắc các chứng bệnh về tim, não, huyết quản.

Hướng phòng khách

Phong khach dat o cung dong nam, phong thuy trong phong khach, xem phong thuy xay nha

Hướng phong thủy Phòng khách nên đặt ở cung Đông Nam.

Hóa giải thế cục Dương trạch tọa Khôn hướng Cấn: :: Thế PHỤC NGÂM TOÀN CỤC đã có PHỤ MẪU TAM BAN: Nếu chỉ là đơn cung phục ngâm, bạn có thể không dùng đến các cung xấu để giảm nhẹ hung họa, song đây là cách cục Phục ngâm toàn cục, rất khó để hóa giải. Rất may là dương trạch có PHỤ MẨU TAM BAN, với cách cục này TỌA không TRIỀU MÃN sẽ phát huy tối đa tác dụng của nó mà không gặp bất kỳ trở ngại nào.

:: Thế THƯỢNG SƠN HẠ THỦY dùng cục TỌA không TRIỀU MÃN: TỌA không TRIỀU MÃN: Nếu mở cửa ờ hướng Cấn, đó chính là sơn tinh, chủ tổn nhân đinh, lại gặp thêm Ngũ Hoàng đại sát, xấu Càng thêm xấu. Hướng Khôn, Ly, Đoài phải âm; tức là thấp, không mở cửa to. Nếu có làm cửa sổ ở các cung này, kích thước nên nhỏ thôi. Hướng Cấn, Chấn, Khảm phải Dương, nên có cửa số lớn. Cửa lớn nên mở ở cung Mão. Tuy cung Mão là thành môn nhưng có CỬu Tử sinh khí tin, vừa vượng tài, vừa tránh Sơn tinh không Hạ Thủy vừa mở cửa đúng cung Tài vị Bát vận (Cửu Tử) Tại hướng Khôn, xây bức tường dài và cao tượng trưng cho SƠN. Do hướng tinh đáo Khôn, nên mở cửa sổ để nạp tài khí. Tại hướng Cấn, chừa hành lang (sân) dài tạo vượng khí, dẫn đến cửa Mão cửu tử. Trước nhà (tay trái đứng từ trong nhà nhìn ra), nên xây hòn non bộ, trong hồ đẹp có nước chảy róc rách, nước phải thật sạch và trong, lắp thêm hệ thống ống cho nước chảy tuần hoàn suốt ngày, khiến cho Long Sơn mát mẻ, xa núi cũng chẳng xa, cách thủy mà gần Thủy. Lưu ý: nếu không gian không rộng rãi, nên xây giả 1 con đường quanh co vào cửa chính, tạo cảm giác hòn non bộ xa khỏi cửa chính. Với hòn non bộ này, hung hiểm sẽ giảm bớt, thậm chí Đinh tài vẫn phát. Nếu dùng TỌA không TRIỀU MÃN, tuy hóa giải được THƯỢNG SƠN HẠ THỦY, nhưng phụ nữ dễ mắc bệnh về tinh thần do căng thẳng, chứng khớp phong thấp và bệnh đốt sống. Lưu ý: Sau khi hóa giải, vẫn còn phải nhờ thêm phước đức cao dày của các thành viên trong gia đình để chuyển hung hóa cát.

Dần sơn Thân hướng (235.5 – 244.5) – cách cục như trên

* Cửa phòng nên mở tại cung Chấn, cung Khảm, chủ về nhân đinh và tiền tài đều vượng; không nên mở tại cung Tốn, vì ở đây tuy Cửu tử lâm vị nhưng là khắc suy tinh. Nếu mở tại 3 cung Đoài, Càn, Ly, chủ về phá tài, tổn thương đinh. Vào năm Mão thêm nhân đinh được cát lợi, năm Tý tốt thứ hai, các năm Ngọ, Dậu, Tuất, Hợi đều hung họa.

* Cung Càn, Cấn, Ly: 3 cung là tổ hợp suy tinh. 3 phương vị này nên bằng phẳng, không nên có núi nước. Nếu có thế núi và dòng nước hình thế thô xấu, chủ về nhân đinh và tiền tài suy bại.

* Cung Tốn: Là tổ hợp Cửu tử, Thất xích, thuộc Thiên hỏa tinh lâm vị. Nếu hình cục điên đảo, niên nguyệt Tử bạch, Cửu tử, Thất xích bay đến, nên đề phòng tai họa. Hướng tinh Cửu tử là sao sinh khí. Phương này có nước ở xa, thế nước nhỏ chủ về tài khí đại vượng.

* Cung Khảm: Sơn tinh Nhất bạch, hướng tinh Lục bạch, tổ hợp Nhất bạch, Lục bạch, một là văn tinh, một là quan tinh. Nếu phương này có đỉnh núi là văn bút, chủ về xuất hiện người làm quan, lại có tiền đồ thuận lợi.

* Cung Khôn: Sơn tinh cửu tử là sao sinh khí. Phương này nên có núi ở xa, không nên gặp nước, chủ về tài sản, đất đai được mở rộng.

* Cửa chính phía trước nên nhỏ, vừa, ít sử dụng. Cung Chính Đông lại đặt cửa sau là cát lợi nhất. Mặc dù cung Đông Nam hướng tinh là sinh khí, nhưng do Ngũ hành tương khắc, cho nên không nên mở cửa. 2 cung Chính Nam, Tây Bắc do suy tinh Nhị hắc và Ngũ hoàng, không nên mở cửa.

Mão sơn Dậu hướng 265.5 – 274.5 độ

* Cung Khảm, Tốn: 2 cung có Nhị hắc, Ngũ hoàng bay đến, Nhị hắc là Bệnh phù tinh, Ngũ hoàng là sáttinh. Phương này nên bằng phẳng, không nên có núi và nước, chủ về cô quả, mắc bệnh ung thư.

* Cung Càn: Sao sinh khí cửu tử bay đến vị trí hướng. Phương này nên có dòng nước tròn trịa, không nên có đỉnh núi hình thế thô xấu, hoặc kiến trúc cao.

* Cung Cấn: Sao sinh khí cửu tử bay đến sơn vị. Phương này nên có đỉnh núi tú lệ, không nên có dòng nước lớn phân thành 3 nhánhhoặc chỗ đất trũng.

* Trung cung: Nhất bạch, Lục bạch nhập tù, Nhất bạch là văn tinh, Lục bạch là quan tinh. Do đó, nhà này đường khoa cử, sỹ đồ không vượng. Nếu phương vị cung Càn dòng nước hợp cục, có thể giải tai ách do nhập tù.

* Cung Ly: Sơn tinh Nhất bạch, hướng tinh Lục bạch, là tổ hợp Lục bạch, Nhất bạch. Nếu ở vị trí xa của phương này có đỉnh núi thẳng đẹp như chiếc bút, chủ về sinh người học rộng tài cao. Người sinh năm Giáp Tý, Quý Mão phát quý.

Hướng phong thủy phòng khách nên đặt ở cung Chính Nam.

Ất sơn Tân hướng – 280.5 – 289.5 độ

Tuất sơn Thìn hướng – 115.5 – 124/5 độ

* Cung Đoài: Hướng tinh Cửu tử bay đến, cửu tử là sao sinh khí. Phương này có chỗ nước ở xa hình tròn, chủ về Cửu vận phát tài. Nếu có đỉnh núi có hình thế hiểm ác, gia nghiệp suy bại, sinh ra người trí tuệ kém phát triển.

* Cung Cấn: Tam bích, Nhất bạch bay đến, Nhất bạch là sao sinh khí. Do đó, phương này có chỗ nước hình tròn trịa, ao hồ, sông phân 3 nhánh, chủ về tài vượng. Phương này kỵ núi cao chèn ép, nếu không người nhà dễ mắc bệnh về tai. Nếu phương này gặp núi nhô đầu, chủ về sinh phường giặc cướp.

* Cung Khảm: Tam bích, Ngũ hoàng bay đến, là tổ hợp suy tinh. Do đó, phương này nên bằng phẳng, không nên gặp hình sát. Nếu có đỉnh núi có hình thế hiểm ác, nước bẩn, dòng nước xung chiếu sẽ sinh phường trộm cướp, côn đồ, làm bại hoại gia nghiệp.

* Cung Khôn: Tứ lục, Lục bạch bay đến, là tổ hợp sát tinh. Phương này nên bằng, rộng. Nếu gặp dòng nước và thế núi với hình thế hiểm ác, người nhà muôn sự bất lợi, người mẹ gặp nhiều khó khăn.

Hướng phong thủy phòng khách nên đặt ở cung Đông Nam, Trung cung, Tây Bắc.

Thìn sơn Tuất hướng – 295.5 – 304.5 độ

* Cửa lớn mở ở 2 cung Càn, Tốn, chủ về vượng tài vượng đinh. Mở ở 5 cung là cách cục hung, chủ về phụ nữ gặp tai ách, gia nghiệp suy bại. Năm Tuất, Hợi, Thìn, Tỵ thêm nhân đinh cát lợi. Những năm còn lại không nên thêm nhân đinh.

* Cung Ly: Nhị hắc, Tứ lục bayđến là tổ hợp sao suy tử. Phương này nên bằng phẳng. Nếu có núi và nướcchủ về bại tài, mắc bệnh tỳ, vị, tim, não. Nếu có dòng nước chảy đâm thẳng, sinh người con bất hiếu.

* Cung Khảm: Ngũ hoàng, Tam bích bay đến là tổ hợp sao suy tử. Do đó, phương này bên bằng phẳng. Nếu có sơn thủy chủ bại tài, có bệnh gan mật, chân tay, gặp họa đột ngột, phụ nữ mang thai gặp nguy khó.

* Cung Chấn, Khôn: Là tổ hợp suy khí tinh, 2 phương vị này cần bằng phẳng, không nên thấy núi và nước.

Trung cung:Hướng sao sinh khí cửu tử nhập tù, Cửu vận gia tài lụn bại. Nếu 2 cung Càn, Tốn có dòng nước phát ra ánh sáng có thể giải tai ách nhập tù. Nếu 2 cung có núi cao đè trấn áp mà hình thù kỳ quái, chủ về nhân đinh, tiền tài đều suy bại.

Hướng phong thủy phòng khách nên đặt ở cung Tây Bắc, Chính Tây.

Tốn sơn Càn hướng (310.50 – 319.5)

* Cung Khảm: Tứ lục, Nhị hắc bay đến là tổ hợp sao suy tử. Phương này nên bằng phẳng, tầm nhìn rộng, không thấy hình sát sơn thủy, chủ hao tổn nhân đinh, suy bại tiền tài.

* Cung Ly: Sơn tinh Tam bích, hướng tinh Ngũ hoàng bay đến, Ngũ hoàng là Thái cực, để tinh, tuy có khí hung sát nhưng nếu phương vị này có dòng nước phát sáng, có thể giải tai ách hướng tinh Cửu tử nhập tù. Nếu phương này thấy núi, trong nhà có giặc cướp, dễ mắc bệnh gan, mật, tim, não, huyết quản.

* Cung Chấn: Song tinh Nhị hắc và Cửu tử bay đến. Cửu tử là sao sinh khí. Phương này có đỉnh núi hình thế tú lệ chủ về vượng nhân đinh. Nếu gặp dòng nước chủ vê ngu muội, trí tuệ kém phát triển, trạch vận thoái tài.

* Cung Đoài: Sơn tinh Ngũ hoàng, hướng tinh Thất xích bay đến, Thất xích là thoái khí tinh, Ngũ hoàng là sát tinh. Phương này nên bằng phẳng, tầm nhìn rộng, gặp núi và nước chủ về nhân đinh và tiền tài suy bại, dễ bị họa bất ngờ.

* Cung Khôn: Nhất bạch, Tam bích bay đến, Nhất bạch là sao sinh khí. Phương này có núi cao đẹp, chủ vềvượng nhân đinh. Nếu có dòng nước mang sát khí, đích tôn lưu lạc không về, người nhà có bệnh gan, mật, thận, tử cung.

Tỵ sơn Hợi hướng (325.50 – 334.5)

Song tinh hội tọa

* Cung Cấn: Sơn tinh Nhất bạch, hướng tinh Lục bạch, là tổ hợp Lục bạch, Nhất bạch, Văn khúc Vũ khúcgiao hội. Nếu phương này có núi hình thê tú lệ chủ về nhân tài quan quý. Núi nước của 2 cung Chấn và Cấn liên kết thành một dải là cát lợi nhất.

* Cung Khôn: Hướng tinh cửu tử là sao sinh khí. Cửu tử thuộc Hỏa, phương này có nước phân 3 nhánh, ao đầm, chủ về vượng tài. Nếu có núi cao lớn, hoặc có công trình kiến trúc nhọn nghiêng, chủ về mắc bệnh về lá lách, dạ dày, tử cung.

* Cung Đoài, cung Tốn: Phi tinh là tổ hợp Ngũ hoàng, Nhị hắc, sao suy tử hội tụ, vì vậy phương này nên bàng phẳng, yên tĩnh. Nếu có núi nước, chủ về có bệnh gan, phổi, yết hầu. Nếu gặp lưu niên Tử bạch Nhị hắc, Ngũ hoàng, chủ về tổn hại đến nam giới trong gia đình.

* Cung Càn: Sơn tinh Tam bích, hướng tinh Tứ lục, là tổ hợp sao suy tử, vì vậy phương này nên bằng phẳng. Nêu có núi nước, chủ về bệnh gan mật, tim não, phổi, đồng thòi chủ về nam nữ có tính phóng túng, dâm đãng, vợ chồng mâu thuẫn, gia nghiệp phá bại.

* Cung Chấn: Sơn tinh Lục bạch, hướng tinh Nhất bạch. Nhất bạch là cát tinh thống lĩnh Thượng nguyên, hội hợp Vũ khúc, chủ về cát lợi. Nếu phương này có nước trong, chủ về nhân tài phát triển nghiệp văn.

Hướng phòng khách Hướng là Cửu tử Thất xích, thường chiêu hồi họa của lộc. Cửu tử Thất xích là Hỏa sát, lại bay tới cung Ly vượng Hỏa, Càng như đổ thêm dầu vào lửa, dễ sinh ra hỏa hoạn và họa đổ máu. Phi tinh quẻ Đoài bay tới hướng thủ, Thất xích là sao suy, chủ về chuyện thị phi, phá tổn tài sản. Trong nhà có người phụ nữ độc ác, cho nên phương vị hướng đối kỵ gặp Thủy. Ở phương hướng nên đặt một cầu thủy tinh màu trắng to khoảng 3 tấc chôn hướng ra cổng. Nên dùng hộp gương hình tròn hoặc hình vuông, cũng có thể dùng đá hoa cương, hộp đá vân to để đựng.

Tý sơn Ngọ hướng – 175.5 – 184.5 độ

* Cung Tốn: Là tổ hợp sát tinh Tứ lục, Tam bích, hướng này cũng nên bằng phẳng, không nên gặp núi. Nêu núi nước ở gần mà hình thế hiểm ác, chủ về mắc cácbệnh gan mật, bệnh thần kinh, xuất hiện trộm cướp, côn đồ, dâm phụ, hung họa liên miên, thương đinh bại tài.

* Cung Càn, cung Chấn: Là tổ hợp sát tinh Nhị hắc, Ngũ hoàng. Cung này nên bằng phẳng, không nên gặp núi. Nếu có núi nước mà hình thế hiểm ác, chủ về mắc bệnh tật, thương tổn.

Cung Khôn, cung Đoài: Là Nhất bạch, Lục bạch bay đến. Nếu phương Khôn có đỉnh núi đẹp, phương Đoài có nước trong, chủ về nhân đinh và tiền tài đều thịnh vượng, lại xuất hiện văn nhân, học sỹ, người nho nhã. 2 phương vị này đều có thể làm phòng sách, phòng ngủ… Hứng phong thủy phòng khách nên đặt ở cung Chính Nam, Tây Nam, Chính Bắc.

Quý sơn Đinh hướng – 190.5 – 199.5 độ

Sửu sơn Mùi hướng – 205.5 – 214.5 độ

Vượng sơn vượng hướng

* Cung Ly: Là tổ hợp Nhất bạch, Thất xích, Nhất bạch thuộc Thủy, Thất xích thuộc Kim, Kim Thủy tương phùng. Phương này có dòng nước nhỏ xanh trong, hoặc ao đầm, đất trũng, chủ về cát lợi. Nếu có nước lớn xung khắc, hoặc có núi hiểm trở trấn áp chủ hung họa, vì tửu sắc mà bại tài.

* Cung Càn: Sơn tinh Nhất bạch, hướng tinh Tứ lục, là tổ hợp Nhất bạch, Tứ lục đồng cung. Nếu phương này gặp núi, gọi là văn bút, chủ về xuất hiện văn nhân chí sỹ, đường công danh thuận lợi. Nếu phương này có nước lớn tràn lan, hoặc có nước 3 nhánh, chủ về nam nữ có tính dâm đãng, vì sắc mà suy bại nhà cửa.

* Cung Khảm: Sơn tinh Lục bạch, hướng tinh cửu tử, là tổ hợp Lục bạch, Cửu tử. Cửu tử tuy là sao sinh khí, nhưng Lục bạch thuộc Kim, Kim Hỏa tương khắc. Vì vậy phương này không nên dùng sơn đỏ để sơn phòng, hoặc dùng làm xưởng luyện kim. Nếu không sẽ xuất hiện nghịch tử, hoặc chủ về chi trưởng mắc bệnh vềđường máu. Nếu phương này có nước ở xa, ao đầm,chủ về có lợi cho vượng tài.

* Cung Đoài: Sơn tinh Cửu tử, hướng tinh Tam bích bay đến, cửu tử thuộc Hỏa, Tam bích thuộc Mộc, Mộc Hỏa tương thông. Vì vậy, phương này nếu có đỉnh núi hình thế tú lệ, chủ về xuất hiện nhân tài thông minh. Nếu có nước lớn, nước 3 nhánh, chủ về xuất hiện nam tặc nữ dâm, gia nghiệp suy bại. Lưu ý

Bố cục này là đáo sơn đáo hướng. Phương hướng có dòng nước phân 3 nhánh hoặc dòng nước trong xanh, chủ về nhanh chóng phát tài, gia trạch hưng vượng, thiện giả thiện báo.

Càn sơn Tốn hướng – 130.5 – 139.5 độ

* Cung Chấn: Nhị hắc, Cửu tử bay đến.Cửu tử là hướng tinh sinh khí. Phương này nên có nước có hìnhtròn, chủ về được nhiều tiền tài, lợi lộc. không nên thấy núi cao, đỉnh núi sụt lở, nếu không trẻ nhỏ trí tuệ kém phát triển, người nhà mắc bệnh gan, tỳ vị, bệnh ở mắt.

* Cung Đoài: Là tổ hợp 2 sao Ngũ hoàng, Thất xích. Thất xích phạm phục ngâm. Phương vị cung này cực hung, nên bình tĩnh, nhìn xa trông rộng. Nếu phương này gặp Ngọ n núi mang hình thế thô lậu hoặc có dòng nước lớn xung chiếu, chủ về phá tài, họa đột ngột, sinh ung thư phổi, ung thư vòm họng, nhân đinh suy thoái.

* Cung Ly: Tam bích, Ngũ hoàng bay đến. Phương này có Ngọ n núi với hình thê tú lệ, có thể giải tai ách do Cửu vận sơn tinh nhập tù. Nếu gặp dòng nước sẽ sinh người làm cướp, người nhà dễ mắc bệnh gan, tim, mắt.

* Cung Khôn: Nhất bạch, Tam bích bay đến. Nhất bạch là hướng tinh sinh khí. Phương này có dòng nước phát ra ánh sáng, chủ về tài lộc hưng vượng mãi mãi. Phương này kỵ gặp núi cao, đỉnh núi hiểm ác, nếu không sẽ bất lợi cho mẹ, người nhà bị tật ở mắt. Nếu phương này gặp núi có đầu nhô ra, trong nhà có cướp.

Hướng phòng khách

Phòng khách nên đặt ở cung Đông Nam, Tây Bắc.

Hợi sơn Tỵ hướng – 145.5 – 154.5 độ

* Cung Càn: Tam bích, Tứ lục bay đến, là tổ hợp suy tử sát tinh. Phương này nên bằng phẳng, địa thế rộng. Nếu có đỉnh núi và dòng nước mang hình thế thô xấu, chủ về bại tài, sinh ra người làm nghề kỹ nữ, mắc bệnh gan, mật.

* Cung Tốn, Đoài: Nhị hắc, Ngũ hoàng bay đến, Nhị hắc là Bệnh phù tinh, Ngũ hoàng là sát tinh. 2 vị trí này nên bằng phẳng, nếu có núi mang hình thế hiểm ác, cao lớn hoặc có dòng nước bẩn xung thẳng, chủ về nhân đinh không vượng, tật bệnh liên miên, tai nạn bất ngờ.

* Cung Khôn: Là tổ hợp Thất xích, Cửu tử. Phương này nên có đỉnh núi phía xa, nếu có dòng nước lớn xung thẳng chủ về hỏa hoạn, thiếu nữ có thể gặp tai ách, nữ giới bất hòa.

* Cung Ly: Thất xích, cửu tử bay đến, Hỏa khắc Kim. Phương này nên có dòng nước phía xa, nếu có núi cao, hình thế hiểm ác chủ về có tai họa hồi lộc, thiếu nữ gặp tai ách, phụ nữ mang thai dâm loạn. Ngoài ra, còn chủ về bệnh tim, não, phổi, dạ dày, môi, mắt.

Cung Cấn, Chấn: Là tổ hợp Nhất bạch, Lục bạch. Nếu cung Cấn, Chấn đều có nước có núi, chủ về 20 năm đại vượng, có văn nhân, chí sỹ. Phòng khách nên đặt ở cung Chính Đông, Chính Bắc

Canh sơn Giáp hướng – 70.5 – 79.5 độ

* Cung Cấn: Tam bích, Tứ lục bay đến, là tổ hợp sát tinh. Do đó, phương này nên bằng rộng, kỵ núi và nước, đặc biệt dòng nước và thế núi với hình thế hiểm ác, núi cao đè nén, dòng nước thô xấu xung chiếu, chủ về gia nghiệp suy bại, trong nhà có kỹ nữ, đạo tặc, ăn xin, có bệnh ở chân, tỳ vị, gan mật.

* Cung Khảm: Sơn tinh Lục bạch, hướng tinh Nhất bạch, Nhất Lục là tổ hợp Văn xương. Phương này cố sông suốihình tròn đẹp hoặc có minh đường, dòng nước phân 3 nhánh, hợp khẩu quyết thành môn, chủ về gia khí tích tụ lâu dài, phúc lộc song toàn.

* Cung Khôn: Sơn tinh Thất xích, hướng tinh Cửu tử bay đến, cửu tử là sao sinh khí. Do đó, phương này có sống ở xa, đẹp, sau khi vào Cửu vận, tài vận hanh thông. Nếu gặp núi cao đỉnh đẹp, chủ về bại tài, có tai họa hồi lộc, mẹ có bệnh, người nhà dễ bị bệnh huyết quản, tử cung, tỳ vị.

* Cung Càn, Ly: Là tổ hợp Nhị hắc, Ngũ hoàng bay đến, Nhị hắc là Bệnh phù tinh, Ngũ hoàng là sát khí.Phương này nên phẳng, rộng, kỵ núi và nước, đặc biệt dòng nước và thế núi với hình thế hiểm ác, chủ về sinh người cô độc, người nhà dễ bị bệnh huyết quản, tim, não, chân, tỳ vị, mắt.

Hướng phòng khách

Phòng khách nên đặt ở cung Chính Bắc.

Dậu sơn Mão hướng – 80.5 – 94.5 độ

* Cửa nhà ở mở cung Đoài, chủ nhân đinh và tiền tài đều vượng, nếu mở ở cung Ly, chủ về người văn võ song toàn. Nếu mở ở cung Cấn, Cửu vận chủ về tài vượng, cung vị khác không nên mở cửa. Năm Mậu, Kỷ, Tân, Dậu thêm nhân khẩu vượng nhất. Năm Mùi, Thân, Tý, Mão, Thìn, Tỵ thêm nhân khẩu là hung họa.

* Cung Càn: Sơn tinh cửu tử bay đến, cửu tử là sao sinh khí. Do đó, phương này có đỉnh núi hình thế tú lệ hoặc vật kiến trúc cao vừa phải, người già trong nhà trường thọ, có luật sư, quan tòa, bác sỹ ngoại khoa. Phương này kỵ có núi cao trấn áp, sống chảy thẳng, nếu không trong nhà gặp tai họa hồi lộc, có kẻ dâm tà, người nhà dễ mắc bệnh huyết quản, tim, não, phổi, đại tràng, bệnh ở chân.

* Cung Khôn, Tốn, Khảm: 3 cung là tổ hợp sát tinh, suy tinh. 3 phương vị này nên bằng phẳng, rộng, kỵ có đòng nước và thế núi, đặc biệt nếu có dòng nước và thế núi vớihình thế hiểm ác hoặc nhà cũ, cầu, cây khô, chủ về hung tai.

* Cung Ly: Nhất bạch, Lục bạch bay đến Phương này có chỗ nước hình tròn đẹp, như ao, hồ, dòng nước phân 3 nhánh hoặc có minh đường, ngoài ra còn có núi ở xa, chủ về có người giỏi cả văn lẫn võ, phú quý lâu dài.

* Cung Cấn: Hướng tinh cửu tử đến, nên có nước như ao đầm, nước tĩnh không động, chủ về nguồn tài nhiều. Cung vị này 2 âm tinh cửu tử, Thất xích hội tụ, nếu ẩm ướt u tối, bế tắc không thông hoặc gặp hình sát, chủ về đam mê tửusắc để lại tiếng xấu. Nếu có núi cao đè, chủ về hỏa hoạn, bệnh ở chân, tỳ vị, phổi, huyết quản, tim, não. Phòng khách nên đặt ở cung Chính Tây, Trung cung

Tân sơn Ất hướng – 100.5 – 109.5 độ

:: Vị trí Bếp theo vận bàn

Hướng về Thất xích & Cửu Tử đồng cung, sẽ gặp hoạ Hoả sát Kim. (xấu) · Hướng vềTam Bích hoặc Ngũ hoàng, do Nhị, Ngũ tượng trưng Nữ chủ nhân, cho thấy Nữ chủ nhân trong gia đình tâm trạng khó vui vẻ, có thể dễ mắc bệnh, gọi là “bệnh táo”, Bếp ở Nhị hắc, Ngũ hoàng đều là bố cục không tốt. (xấu)

Lưu ý khác: Bếp và Nhà vệ sinh đều không được nằm ở trung cung ngôi nhà, ảnh hưởng đến sức khoẻ.

Tương sinh / Tỷ vượng / Thoái khí / Xung sát / Lao tử

Thước lỗ ban· Thước lỗ ban 52,2 cm: Để đo khối rỗng, các khoảng thông thủy trong nhà như: Ô cửa sổ, ô tháng, cửa chính, cả đi, cửa sổ… · Thước lỗ ban 42,9 cm: Để đo khối đặc, các chi tiết trong nhà, đồ đạc nội thất: Kích thước giường tủ, bệ bếp, bậc…v…v… · Thước lỗ ban 38,8 cm: Để đo kích thước âm trạch: Mồ mả, tiểu, quách, ban thờ…

:: Kích thước tủ thờ

Chiều ngang (dài): 127 cm ; 157 cm ; 175 cm , 197 cm , 217 cm … · Chiều sâu (rộng): 61 cm ; 69 cm ; 81 cm , 97 cm , 107 cm, 117 cm … · Chiều cao : 117 cm ; 127 cm …

:: Kích thước bàn thờ treo phổ thông.

Kích thước bàn thờ treo tường Sâu 480 mm (Hỷ Sự) x Rộng 810 mm (Tài Vượng) · Kích thước bàn thờ treo tường Sâu 480 mm (Hỷ sự) x Rộng 880 mm (Tiến Bảo) · Kích thước bàn thờ treo tường Sâu 495mm (Tài Vượng) x Rộng 950 mm (Tài Vượng) · Kích thước bàn thờ treo tường Sâu 560 mm (Tài Vượng) x Rộng 950 mm (Tài Vượng) · Kích thước bàn thờ treo tường Sâu 610 mm (Tài Lộc) x Rộng 1070mm (Quý Tử)

Vị trí Nhà vệ sinh

Không được gần cửa chính. Không được giữa nhà · Không nên ở Tây Bắc · Không nên nhiều vị trí của các tầng · Không được vào cửa chính thấy ngay nhà vệ sinh. · Không nên thiết kế cùng nhà bếp. · Tránh ẩm thấp mất vệ sinh, nên sạch sẽ, hút ẩm, thường xuyên đóng cửa lại.

Bổ cứu góc khuyết

Nhà nên vuông vắn là nhà tốt, mỗi góc trong nhà là một hướng, đại diện một thành viên, giả dụ khuyết góc Đông, gia chủ sẽ khó có con trai hoặc con trai không ở cùng. :: Cách bổ cứu khuyết góc: (treo tranh hoặc bày đồ chơi) · Khuyết góc ở hướngĐông: treo bức tranh hình con thỏ, mèo. · Khuyết góc ở hướngĐông Nam: treo tranh Rồng. · Khuyết góc ở hướngNam: treo tranh hoặc tượng Ngựa. · Khuyết góc ở hướngTây Nam: treo tranh hoặc tượng Dê, Trâu, Khỉ. · Khuyết góc ở hướngTây: treo tranh hoặc tượng Gà. · Khuyết góc ở hướngTây Bắc: treo tranh hoặc tượng Chó, heo (cần Hoả hình Chó, cần Thuỷ hình Heo). · Khuyết góc ở hướngBắc: treo tranh hoặc tượng Chuột, Chuột Micky. · Khuyết góc ở hướngĐông Bắc: treo tranh hoặc tượng đứa trẻ cởi Trâu, hoặc mèo, hổ.

Thúc đẩy tài vị trong nhà, kinh doanh

Tài vị chính là phương vị trực tiếp ảnh hưởng đến tài vận, nằm ở vị trí góc nghiêng “bên trái” hoặc “bên phải” từ cửa chính.

Đặt các vật cát tường vào tài vị có thể thúc đẩy được vận tài: Thần tài, Nguyên bảo, Bình hoa, Kỳ lân, Cầu thạch anh, bưởi, cam, trúc phú quý, cóc vàng 3 chân…

:: Nên

1. Giữ cho vị trí tài vị sáng sủa, sạch sẽ, sẽ có dương khí tụ lại · 2. Đặt các vật cát tường hoặc cây có lá rộng · 3. Đặt đồ dùng có người lui tới: sofa, ghế, bàn ăn…

:: Không nên

Tài vị bị đè nén: tủ áo, kệ sách, tủ cao · Bể cá, cây cảnh có nước · Không có điểm tựa vững, ví dụ: cửa sổ, đường qua lại, sân thượng. · Nhà vệ sinh, kho, nơi để tạp vật · Bị sự xung xạ các góc nhọn, vật nhọn · Tăm tối, không đủ không khí lưu thông hoặc nằm ở góc chết.

Phúc nguyên

Phúc nguyên là một danh từ tương đối phức tạp trong Phong thuỷ, nói đơn giản nó đại diện sự giúp đỡ trong Tam hợp cục. Mệnh chủ có thể lựa chọn vị trí đặt vật phẩm ngũ hành cần vào, theo Bát tự mệnh khuyết

Cần Thuỷ, Phúc nguyên tại: Thân, Tý, Thìn.

Cần Kim, Phúc nguyên tại : Tỵ, Dậu, Sửu.

Cần Hoả, Phúc nguyên tại : Dần, Ngọ, Tuất.

Cần Mộc, Phúc nguyên tại : Hợi, Mão, Mùi.

Cần Thổ, Phúc nguyên tại : Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

Đơn giản hơn, dựa vào năm sinh có thể chọn vị trí Phúc nguyên để ngủ dựa theo tam hợp trên.

Hàm trì: đào hoa, tình yêu

Hàm trì chỉ về vận đào hoa, tình yêu, tình dục, gặp gỡ nhiều người. Đào hoa được phân theo đào hoa tường nội và đào hoa tường ngoại. Bày trí không khéo dẫn đến đào hoa sát.

:: Đào hoa theo con giáp

Tuổi: Thân, Tý, Thìn: đào hoa tại “DẬU” hướng Tây.

Tuổi: Tỵ, Dậu, Sửu: đào hoa tại “NGỌ”” hướng Nam.

Tuổi: Dần, Ngọ, Tuất: đào hoa tại “MÃO”” hướng Đông.

Tuổi: Hợi, Mão, Mùi: đào hoa tại “TÝ”” hướng Bắc.

Nếu chồng bạn tuổi Ngọ, bạn đặt hình nữ minh tinh ở hướng Đông hoặc phương Tây bắc trong nhà sẽ gây nhiều phiền phức, vì Tây bắc còn đại diện cho Nam chủ nhân, tương tự Tây Nam đại diện nữ chủ nhân.

Dịch mã: chủ về du lịch, đi xa, di chuyển, thay đổi

Nếu tháng này hành Dịch mã tất trong tháng sẽ đi du lịch. Thời thìn hành Dịch mã tất thời gian này sẽ ra khỏi nhà.

Mã là tượng trưng cho thay đổi biến động, Trong Bát tự gặp nó, đại diện người này có tính hướng ngoại, thích ngao du khắp nơi. Trong bát tự của thương nhân, quân nhân, nhà ngoại giao thường mang nhiều Mã tinh. Mã tinh còn là tiên chí cho xuất ngoại. Nếu Mã tinh bị hợp thì tuy có cũng bằng không, Mã tinh bị xung thì ngày đi ngìn dặm. Phụ nữ có nhiều Mã tinh chủ về thân tâm bất an, là tượng bất lợi.

Muốn hành dịch mã, gia chủ có thể bày trí vật theo tiêu sinh tại hướng đó sẽ dễ hành vận, ví dụ bạn tuổi Thân, Tý, Thìn hãy đặt tượng con Hổ, tranh Hổ ở hướng Dần (Đông Bắc)

Tuổi: Thân, Tý, Thìn: Dịch mã tại “DẦN” (Đông Bắc).

Tuổi: Tỵ, Dậu, Sửu: Dịch mã tại “HỢI” (Tây bắc).

Tuổi: Dần, Ngọ, Tuất: Dịch mã tại “THÂN” (Tây Nam).

Tuổi: Hợi, Mão, Mùi: Dịch mã tại “TỴ” (Đông Nam).

Phong thuỷ Khải Toàn

* Có duyên lĩnh hội Thiền định – Phong thuỷ – Tâm linh, dùng những kiến thức này giúp người trong tâm thế cẩn trọng, giúp ai và không nhận ai. Truyền tải thông điệp Thiền đến mọi người để có được sự an nhiên trong đời sống, sống tích cực, hướng thiện, giúp đỡ nhân sinh.

* Tôi không nhiều hứng thú khi dự đoán tương lai của ai đó, nhưng rất thích nói về “cải vận” luận về làm thế nào thay đổi cuộc sống tốt hơn. Các luận đoán trong kết quả gửi đến gia chủ chỉ nói hạn chế về tương lai, đa phần hướng dẫn cách cho tâm tính tích cực, chỉ ra Mệnh khuyết để cải vận.

Cát Hung 24 Sơn Hướng Nhà Vận 8 – Thầy Khải Toàn

Vận mệnh giàu sang – Thầy Khải Toàn

6 hướng tốt vận 8: 1. Càn sơn hướng Tốn: hướng về chính giữa Đông Nam. 132 đến 138 độ 2. Tốn Sơn hướng Càn: hướng về chính giữa Tây Bắc. 312 đến 318 độ 3. Sửu Sơn hướng Mùi: hướng về Tây Nam lệch Nam. 207 đến 213 độ. 4. Mùi Sơn hướng Sửu: hướng về Đông Bắc lệch Bắc. 27 đến 33 độ 5. Tỵ Sơn hướng Hợi: hướng về Tây Bắc lệch Bắc. 327 đến 333 độ 6. Hợi Sơn hướng Tỵ: hướng về Đông Nam lệch Nam. 147 đến 153 độ

Tương đối: Song tinh hội toạ

Xấu: – Nhà “Thượng sơn hạ thủy” (bệnh nhiều tật lắm) – Nhà “song tinh đáo tọa” (phá tài) – Nhà “song tinh đáo hướng” (bệnh tật)

Hạ nguyên Bát vận, Bát bạch Thổ là vượng tinh đương lệnh, chủ về đại cát: Cửu tử hoả (9), Nhất bạch Thuỷ (1): là sao sinh khí (tốt) Nhị hắc Thổ, Tam bích Mộc: là sao suy tử, chủ đại hung. Tứ lục Mộc, Ngũ hoàng Thổ, Lục bạch Kim: là sát tinh, chủ hung hoạ. Thất xích Kim tinh (sao 7) là thoái khí tinh, không hung không cát. Bát bạch là Cấn, là sinh môn tại vị trong cách cục Kỳ môn. Sinh môn là Tài, vì vậy Bát bạch chủ về tiền của, gọi là Kim khố.

• Đăng ký kên Youtube để nhận video mới nhất

Nhà Ngọ sơn Tý hướng (355.5 – 4.50) độ

Song tinh hội toạ …

Nhà tọa Ngọ sơn Tý hướng và Đinh sơn Quý hướng nên đặt phòng khách theo hướng nào! Phân tích trạch vận

Nhà tọa Ngọ sơn Tý hướng và Đinh sơn Quý hướng ở Bát vận là cách cục Song tinh hội toạ. Nếu phương toạ có sơn thuỷ bao quanh, chủ nhân đinh và tiền tài đều vượng, trong nhà sinh bậc văn nhân, chí sỹ. Phương toạ vận tinh Tam bích và Cửu tử trên địa bàn là chủ về sinh quý tử thông minh. Phương hướng là Cửu tử, Thất xích bay đến, Cửu tử là sao sinh khí, tính Hoả cực vượng.

Do đó, phương này có dòng nước phía xa, dòng nước nhỏ hoặc nơi trũng, chủ về vượng tài. Nếu có đỉnh núi hình thế thô xấu, chủ về tài suy, có hoả hoạn.

• Cửa nhà mở ở cung Ly chủ về tiền tài và nhân đinh đều vượng. Nếu mở ở cung Khôn, chủ về sinh quý tử vượng gia. Nếu mở ở cung Cấn, chủ nhân đinh và tiền tài không vượng.

Nếu mở ở Càn, Chấn, Tốn chủ về hung họa. Năm Ngọ, Mùi, Thân, Dậu thêm nhân đinh được cát lợi. Năm Tuất, Hợi, Mão, Thìn, Tỵ thêm nhân đinh, chủ về hung.

• Cung Càn, Chấn: Là tổ hợp Nhị hắc Bệnh phù tinh, Ngũ hoàng sát tinh. 2 phương này nên bằng phẳng, tầm nhìn rộng. Nếu có dòng nước và thế núi mà hình thế hiểm ác, chủ nhân đinh suy bại. Nếu nhà này tọa ở Đinh sơn Quý hướng, phương vị Hợi ở cung Càn có hình sát như đỉnh núi vững chắc, sắc nhọn hoặc có góc nhà xung thẳng, chủ về người già bị bệnhhuyết quản, tim, não, trong nhà dễ phát sinh mâu thuẫn, tranh đấu.

• Cung Cấn: Thất xích, Cửu tử bay đến. Phương này nên bằng phẳng, phương xa có thể có núi nhỏ nhưng không nên có ao, dòng nước lớn, nếu không sẽ có tai họa hồi lộc, bất lợi cho thiếu nữ.

• Cung Khôn, Đoài: Nhất bạch, Lục bạch bay đến. Nếu cung Khôn có dòng nước, cung Đoài thấy núi, hình nước trong xanh, hình thế núi cao đẹp, tú lệ, chủ về có văn nhân, chí sỹ, vượng quý phát tài.

• Cung Tốn: Tam bích, Tứ lục bay đến, là tổ hợp suy tinh. Phương này nên bằng phẳng, tầm nhìn rộng. Lại có sơn tinh Tứ lục và Nguyên đán bàn trùng điệpphạm phục ngâm. Phương này có núi hoặc góc nhàxung chiếu, chủ về bất lợi cho trưởng nữ, mắc bệnh bệnh gan, thần kinh, tật ở đùi. Nếu có nước chảy thẳng, nước bẩn, chủ về sinh người dâm loạn.

Hướng phòng khách

Phòng khách nên đặt ở cung Chính Tây

Nhà Đinh sơn Quý hướng (10.5 -19.5) độ, như cách cục trên

Song tinh hội toạ …

Mùi sơn Sửu hướng – 25.5 – 34.5 độ

Vượng sơn vượng hướng

Nhà tọa ở Mùi sơn Sửu hướng ở Bát vận là cách cục Vượng sơn vượng hướng. Nếu sơn thủy hợp cục tức tọa sơn có núi cao, phương hướng có nước bao quanh, chủ về nhân đinh, tiền tài đều vượng.

Nhưng cục này sơn tinh mãn bàn phạm phục ngâm, cung Khôn phạm phục ngâm, cách phá giải là phương hướng cần có chỗ nướchình tròn, trong vắt, hoặc dòng nước phân thành 3 nhánh, cộng với cách cục Vượng sơn vượng hướng có thể phá giải tai ách của phản phục ngâm. Nếu hình thế dòng nước và thế núi tương phản, phương tọa có dòng nước, phương hướng có núi, chủ về bại tài, tật bệnh. Nếu phương tọa có dòng nước, chủ về bệnh ở dạ dày, đốt sống, tử cung, cánh tay. Nếu phương hướng có núi, chủ về bệnh ở chân, khoang bụng, bệnh tinh thần.

• Cửa nhà mở ở cung Cấn, vượng đinh vượng tài. Nếu mở ở cung Càn chủ về công danh phú quý lâu dài.

Nếu mở ở cung Chân, Tốn, Khảm, Ly chủ về hung họa, nên tránh. Năm Sửu, Dần, Mùi, Thân, Tuất, Hợi thêm nhân đinh là cát lợi. Năm Mão, Thìn, Tỵ thêm nhân đinh là hung họa.

• Cung Khảm: Lục bạch, Cửu tử bay đến, Cửu tử là sao sinh khí. Phương này chỗ xa có núi cao nhưng có thể có thế đè nén, kỵ có nước. Nếu có dòng nước lớn như sống phân 3 nhánh, ao đầm chủ về bệnh ở não, xương, phổi, tim, dạ dày, chủ về tổn hại trung nam, sinh người con bất hiếu, nữ giới tâm địa xấu xa.

• Cung Đoài: Cửu tử, Tam bích bay đến, Cửu tử là sao sinh khí. Phương này có nước hình thế thanh tú, chủ về người thông minh, nhanh trí. Tam bích là suy tinh. Phương này có núi cao, hình núi hiểm ác, trong nhà có nam trộm cướp, nữ dâm đãng.

• Cung Ly: Là tổ hợp Thất xích, Nhất bạch, Nhất bạch Thủy tinh bay đến sơn vị, Nhất bạch là sao sinh khí. Do đó, phương này nên có Ngọn núi phía xa, chủ về người giỏi biện luận, kỵ có dòng nước. Nếu có dòng nước chủ về người nhà dâm loạn, có bệnh phổi, tai, thận…

• Cung Càn: Là tổ hợp Nhất bạch, Tứ lục đồng cung, Văn xương tinh bay đến. Phương này có hình nước thanh tú, chủ về sinh bậc văn nhân, chí sỹ. Nếu có hình sát như nhà cũ nát, cầu, cây khô, chủ về đời sau khoa danh không vượng, có phụ nữ dâm tà.

• Cung Tốn, Chấn: Phi tinh của 2 cung là tể hợp suy tinh. Do đó, 2 phương vị này cần bằng phẳng, kỵ nhìn thấy dòng nước và thế núi. Nếu có dòng nước và thế núi mang hình thế hiểm ác, trong nhà phần lớn sinh nữ, người nhà có bệnh thần kinh, cổ, cánh tay, đốt sống lưng.

Hướng phòng khách

Xem phong thuy phong khach, phong khach theo phong thuy, phong thuy phong tro

Hướng phong thủy phòng khách tốt nhất nên đặt ở cung Tây Nam, Chính Bắc.

Khôn sơn Cấn hướng (40.5 – 49.5)

Thượng sơn hạ thuỷ

Nhà tọa ở Khôn sơn Cấn hướng, Thân sơn Dần hướng thuộc Bát vận là cách cục Thượng sơn hạ thủy, nên sử dụng hình cục tọa không triều mãn. Đồng thời bàn này sơn tinh mãn bàn phản phục ngâm, nhưng toàn cục lại hợp Liên châu tam bàn quái.

Do đó, tuy hình cục là thượng sơn hạ thủy, lại phạm phục ngâm, nhưng do Liên châu tam bàn nên lấy hình cục tọa không triều mãn không có trở ngại. Nhưng nếu dùng hình cục tọa mãn triều không, phương tọa có núi cao, hướng thủy có dòng nước lớn, chủ về thương đinh bại tài, phụ nữ dễ mắc bệnh tinh thần, chứng khớp phongthấp, bệnh đốt sống. Ngoài ra, trạch này nên dùng chỗ bằng phẳng, không nên ở chỗ sơn long. • Cửa nhà mở ở cung Khôn, cung Chấn, chủ về tài vượng. Mở ở cung Tốn phát nhân đinh và tiền tài, mở ở cung vị khác là hung. Năm Mùi, Thân, Thìn, Tỵ thêm nhân đinh được cát lợi. Những năm còn lại bất lợi.

• Cung Khảm: Là tổ hợp Thất xích, Nhất bạch, Nhất bạch là sao sinh khí. Do đó, phương này có núi xa đẹp, có thể sinh người giỏi biện luận. Nếu có nước xung thẳng, chủ nam nữ dâm đãng, loạn luân, người nhà có bệnh tai, xương, phổi, thận.

• Cung Tốn: Tổ hợp Nhất bạch, Tứ lục đồng cung. Phương này nên có dòng nước, nếu là dòng nước tròn trịa, trong xanh, chủ về có người học rộng tài cao, tài vận hưng vượng. Nếu có Ngọn núi hoặc vật thể kiến trúc có hình thế cao lớn, hiểm ác chủ về người nhà dâm tà, đam mê tửu sắc.

• Cung Chấn: cửu tử, Tam bích bay đến. Phương này có dòng nước thanh tú, trong xanh. Sau khi vào Cửu vận, tài vận hanh thông, sinh người thông minh nhanh trí. Nếu có sơn loan có hình thế thô ác, nam trộm cướp, nữ là phận kỹ nữ, người nhà phạm quan ty hình ngục.

• Cung Càn, Đoài: Là tổ hợp suy tinh. 2 phương này cần bằng phẳng, tầm nhìn rộng. Nếu có dòng nước vàthế núi với hình thế hiểm ác, người nhà có bệnh gan, tim, phổi, bị tàn tật, tai nạn xe cộ.

Hướng phòng khách

Hướng phong thủy Phòng khách tốt nhất nên đặt ở cung Đông Bắc, Chính Nam.

Hóa giải thế cục Dương trạch tọa Khôn hướng Cấn: :: Thế PHỤC NGÂM TOÀN CỤC đã có PHỤ MẪU TAM BAN: Nếu chỉ là đơn cung phục ngâm, bạn có thể không dùng đến các cung xấu để giảm nhẹ hung họa, song đây là cách cục Phục ngâm toàn cục, rất khó để hóa giải. Rất may là dương trạch có PHỤ MẨU TAM BAN, với cách cục này TỌA không TRIỀU MÃN sẽ phát huy tối đa tác dụng của nó mà không gặp bất kỳ trở ngại nào.

:: Thế THƯỢNG SƠN HẠ THỦY dùng cục TỌA không TRIỀU MÃN: TỌA không TRIỀU MÃN: • Nếu mở cửa ờ hướng Cấn, đó chính là sơn tinh, chủ tổn nhân đinh, lại gặp thêm Ngũ Hoàng đại sát, xấu Càng thêm xấu. Hướng Khôn, Ly, Đoài phải âm; tức là thấp, không mở cửa to. Nếu có làm cửa sổ ở các cung này, kích thước nên nhỏ thôi. Hướng Cấn, Chấn, Khảm phải Dương, nên có cửa số lớn. Cửa lớn nên mở ở cung Mão. Tuy cung Mão là thành môn nhưng có CỬu Tử sinh khí tin, vừa vượng tài, vừa tránh Sơn tinh không Hạ Thủy vừa mở cửa đúng cung Tài vị Bát vận (Cửu Tử) Tại hướng Khôn, xây bức tường dài và cao tượng trưng cho SƠN. Do hướng tinh đáo Khôn, nên mở cửa sổ để nạp tài khí. Tại hướng Cấn, chừa hành lang (sân) dài tạo vượng khí, dẫn đến cửa Mão cửu tử. Trước nhà (tay trái đứng từ trong nhà nhìn ra), nên xây hòn non bộ, trong hồ đẹp có nước chảy róc rách, nước phải thật sạch và trong, lắp thêm hệ thống ống cho nước chảy tuần hoàn suốt ngày, khiến cho Long Sơn mát mẻ, xa núi cũng chẳng xa, cách thủy mà gần Thủy. Lưu ý: nếu không gian không rộng rãi, nên xây giả 1 con đường quanh co vào cửa chính, tạo cảm giác hòn non bộ xa khỏi cửa chính. Với hòn non bộ này, hung hiểm sẽ giảm bớt, thậm chí Đinh tài vẫn phát. Nếu dùng TỌA không TRIỀU MÃN, tuy hóa giải được THƯỢNG SƠN HẠ THỦY, nhưng phụ nữ dễ mắc bệnh về tinh thần do căng thẳng, chứng khớp phong thấp và bệnh đốt sống. • Lưu ý: Sau khi hóa giải, vẫn còn phải nhờ thêm phước đức cao dày của các thành viên trong gia đình để chuyển hung hóa cát.

Thân sơn Dần hướng (55.5 – 64.5) – cách cục như trên

Thượng sơn hạ thuỷ

Cấn sơn Khôn hướng (220.5 – 229.5)

Thượng sơn hạ thuỷ

Nhà tọa ở Cấn sơn Khôn hướng và Dần sơn Thân hướng tại Bát vận là cách cục Thượng sơn hạ thủy, nên dùng hình cục tọa không triều mãn. Hướng tinh Nhị hắc, vận tinh Ngũ hoàng, đầu hướng có nước, gặp lưu niên Tử bạch Nhị hắc, Ngũ hoàng, chủ về tổn hại đếntrạch chủ, mắc các bệnh như phổi, cổ, thần kinh. Nếu tọa sơn có đỉnh núi, hoặc công trình kiến trúc cao lớn trấn áp, chủ về nỗi lo tuyệt tự.

Cục này Nhất bạch, Tứ lục; Thất xích, Nhị hắc; Ngũ hoàng, Bát bạch; Tam bích, Lục bạch, Cửu tử hợp thành quẻ Tam bàn phụ mẫu, nhưng Cửu cung hướng lên trên, phạm vào phục ngâm, vì vậy tốt nhất xây trên đất núi, không nên xây trên đất bằng. Hơn nữa 3 cung Tốn, Ly, Khôn là phương vị tốt nhất có thực địa, còn 3 cung Càn, Khảm, Cấn thì tốt nhất có nước. Nếu được như vậy mới có thể giải được điềm hung của phục ngâm.

• Nếu cửa phòng mở tại cung Cấn là tốt nhất, cũng có thể mở tại cung Khảm, cung Ly, không nên mở tại 3 cung Càn, Đoài, Chấn. Cung Tốn tuy là vị trí Văn xương,nhưng là sao suy khí. Tại các năm Dần, Mùi, Thân, Thìn, Tỵ thêm nhân đỉnh là cát lợi, vào các năm khác thường không được như ý.

• Cung Chấn: Sơn tinh Cửu tử là sao sinh khí, phương này có núi ở xa, chủ về xuất hiện người thông minh. Nếu có nước thường bất lợi đố với trưởng nam, trung nữ.

• Cung Khảm: Hướng tinh Nhất bạch là Hạ nguyên bổ tinh. Phương này nên có nước chảy, hoặc có nước 3 nhánh. Nếu có núi cao hoặc công trình kiến trúc cao lớn thường gặp hung họa.

• Cung Càn, cung Đoài: 2 cung là tổ hợp Lục bạch, Tam bích và Thất xích, Tứ lục, đều là sao suy tử. 2 phương vị này nên bằng phẳng, không nên gặp núi, gặpnước, nếu không chủ về bệnh ở chân, thương tổn đến nhân đinh, bất lợi cho chi trưởng.

• Cung Tốn: Nhất bạch, Tứ lục đồng cung. Phương này có núi, gọi là văn bút, chủ về xuất hiện văn nhân, chí sỹ.

• Cung Ly: Phương này nên có dòng nước nhỏ. Nếu gặp núi thường bất lợi cho người già, đễ mắc các chứng bệnh về tim, não, huyết quản.

Hướng phòng khách

Phong khach dat o cung dong nam, phong thuy trong phong khach, xem phong thuy xay nha

Hướng phong thủy Phòng khách nên đặt ở cung Đông Nam.

Hóa giải thế cục Dương trạch tọa Khôn hướng Cấn: :: Thế PHỤC NGÂM TOÀN CỤC đã có PHỤ MẪU TAM BAN: Nếu chỉ là đơn cung phục ngâm, bạn có thể không dùng đến các cung xấu để giảm nhẹ hung họa, song đây là cách cục Phục ngâm toàn cục, rất khó để hóa giải. Rất may là dương trạch có PHỤ MẨU TAM BAN, với cách cục này TỌA không TRIỀU MÃN sẽ phát huy tối đa tác dụng của nó mà không gặp bất kỳ trở ngại nào.

:: Thế THƯỢNG SƠN HẠ THỦY dùng cục TỌA không TRIỀU MÃN: TỌA không TRIỀU MÃN: Nếu mở cửa ờ hướng Cấn, đó chính là sơn tinh, chủ tổn nhân đinh, lại gặp thêm Ngũ Hoàng đại sát, xấu Càng thêm xấu. Hướng Khôn, Ly, Đoài phải âm; tức là thấp, không mở cửa to. Nếu có làm cửa sổ ở các cung này, kích thước nên nhỏ thôi. Hướng Cấn, Chấn, Khảm phải Dương, nên có cửa số lớn. Cửa lớn nên mở ở cung Mão. Tuy cung Mão là thành môn nhưng có CỬu Tử sinh khí tin, vừa vượng tài, vừa tránh Sơn tinh không Hạ Thủy vừa mở cửa đúng cung Tài vị Bát vận (Cửu Tử) Tại hướng Khôn, xây bức tường dài và cao tượng trưng cho SƠN. Do hướng tinh đáo Khôn, nên mở cửa sổ để nạp tài khí. Tại hướng Cấn, chừa hành lang (sân) dài tạo vượng khí, dẫn đến cửa Mão cửu tử. Trước nhà (tay trái đứng từ trong nhà nhìn ra), nên xây hòn non bộ, trong hồ đẹp có nước chảy róc rách, nước phải thật sạch và trong, lắp thêm hệ thống ống cho nước chảy tuần hoàn suốt ngày, khiến cho Long Sơn mát mẻ, xa núi cũng chẳng xa, cách thủy mà gần Thủy. Lưu ý: nếu không gian không rộng rãi, nên xây giả 1 con đường quanh co vào cửa chính, tạo cảm giác hòn non bộ xa khỏi cửa chính. Với hòn non bộ này, hung hiểm sẽ giảm bớt, thậm chí Đinh tài vẫn phát. Nếu dùng TỌA không TRIỀU MÃN, tuy hóa giải được THƯỢNG SƠN HẠ THỦY, nhưng phụ nữ dễ mắc bệnh về tinh thần do căng thẳng, chứng khớp phong thấp và bệnh đốt sống. Lưu ý: Sau khi hóa giải, vẫn còn phải nhờ thêm phước đức cao dày của các thành viên trong gia đình để chuyển hung hóa cát.

Dần sơn Thân hướng (235.5 – 244.5) – cách cục như trên

Giáp sơn Canh hướng – 250.5 – 259.5 độ

Song tinh hội toạ …

Nhà tọa ở Giáp sơn Canh hướng tại Bát vận là cách cục Song tinh hội tọa. Sơn tinh Bát bạch lâm vị. Nếu phương này có núi, hoặc công trình kiến trúc cao lớn, lại có ao hồ hoặc nước phân 3 nhánh, chủ về nhân đinh và tiền tài đều vượng. Hướng thượng là Tam bích, tổ hợp song tinh Tứ lục, Lục bạch là sao suy tử. Phương này nên bằng phẳng. Nếu có núi nước gần đó, chủ về gia nghiệp suy bại, lại xuất hiện kỹ nữ. Nếu có nước chảy ngược uốn cong, núi quay lưng, hình sát thám đầu sơn, chủ về xuất hiện trộm cướp, người hành khất…

• Cửa phòng nên mở tại cung Chấn, cung Khảm, chủ về nhân đinh và tiền tài đều vượng; không nên mở tại cung Tốn, vì ở đây tuy Cửu tử lâm vị nhưng là khắc suy tinh. Nếu mở tại 3 cung Đoài, Càn, Ly, chủ về phá tài, tổn thương đinh. Vào năm Mão thêm nhân đinh được cát lợi, năm Tý tốt thứ hai, các năm Ngọ, Dậu, Tuất, Hợi đều hung họa.

• Cung Càn, Cấn, Ly: 3 cung là tổ hợp suy tinh. 3 phương vị này nên bằng phẳng, không nên có núi nước. Nếu có thế núi và dòng nước hình thế thô xấu, chủ về nhân đinh và tiền tài suy bại.

• Cung Tốn: Là tổ hợp Cửu tử, Thất xích, thuộc Thiên hỏa tinh lâm vị. Nếu hình cục điên đảo, niên nguyệt Tử bạch, Cửu tử, Thất xích bay đến, nên đề phòng tai họa. Hướng tinh Cửu tử là sao sinh khí. Phương này có nước ở xa, thế nước nhỏ chủ về tài khí đại vượng.

• Cung Khảm: Sơn tinh Nhất bạch, hướng tinh Lục bạch, tổ hợp Nhất bạch, Lục bạch, một là văn tinh, một là quan tinh. Nếu phương này có đỉnh núi là văn bút, chủ về xuất hiện người làm quan, lại có tiền đồ thuận lợi.

• Cung Khôn: Sơn tinh cửu tử là sao sinh khí. Phương này nên có núi ở xa, không nên gặp nước, chủ về tài sản, đất đai được mở rộng.

• Cửa chính phía trước nên nhỏ, vừa, ít sử dụng. Cung Chính Đông lại đặt cửa sau là cát lợi nhất. Mặc dù cung Đông Nam hướng tinh là sinh khí, nhưng do Ngũ hành tương khắc, cho nên không nên mở cửa. 2 cung Chính Nam, Tây Bắc do suy tinh Nhị hắc và Ngũ hoàng, không nên mở cửa.

Mão sơn Dậu hướng 265.5 – 274.5 độ

 Song tinh hội hướng

Nhà tọa ở Mão sơn Dậu hướng và Ất sơn Tân hướng thuộc Bát vận là cách cục Song tinh hội hướng. Phương hướng có 2 Bát bạch bay đến, vận tinh là Nhất bạch, đây là 3 cát tinh hội tụ. Nếu phương này có thế nước tròn trịa,hoặc có 2 dòng nước hội tụ, nước phân 3 nhánh, ngoài ra lại có đỉnh núi cao lớn tú lệ, hoặc kiến trúc cao lớn chủ về nhân đinh và tiền tài đều vượng. Tọa sơn phương Chấn làTam bích, Tứ lục bay đến, là tổ hợp suy tinh. Phương này nên bằng phẳng, nếu có hình sát sơn thủy như hố, cầu,đỉnh núi nhô lên, chủ về nhà có giặc cướp, ăn xin.

• Cửa lớn của ngôi nhà nếu mở ở cung Đoài cát lợi nhất, chủ về nhân đinh và tiền tài đều vượng. Mở ở 2 cung Ly, Càn, tuy suy nhưng cát lợi. Mở ở cung Chấn, Tốn, Khôn, Khảm không cát lợi, chủ về phụ nữ mang thai, mẹ già và cháu đích tôn có tai nạn. Năm Dậu thêm nhân đinh cát lợi nhất, năm Mậu, Kỷ tốt thứ hai.

• Cung Khảm, Tốn: 2 cung có Nhị hắc, Ngũ hoàng bay đến, Nhị hắc là Bệnh phù tinh, Ngũ hoàng là sáttinh. Phương này nên bằng phẳng, không nên có núi và nước, chủ về cô quả, mắc bệnh ung thư.

• Cung Càn: Sao sinh khí cửu tử bay đến vị trí hướng. Phương này nên có dòng nước tròn trịa, không nên có đỉnh núi hình thế thô xấu, hoặc kiến trúc cao.

• Cung Cấn: Sao sinh khí cửu tử bay đến sơn vị. Phương này nên có đỉnh núi tú lệ, không nên có dòng nước lớn phân thành 3 nhánhhoặc chỗ đất trũng.

• Trung cung: Nhất bạch, Lục bạch nhập tù, Nhất bạch là văn tinh, Lục bạch là quan tinh. Do đó, nhà này đường khoa cử, sỹ đồ không vượng. Nếu phương vị cung Càn dòng nước hợp cục, có thể giải tai ách do nhập tù.

• Cung Ly: Sơn tinh Nhất bạch, hướng tinh Lục bạch, là tổ hợp Lục bạch, Nhất bạch. Nếu ở vị trí xa của phương này có đỉnh núi thẳng đẹp như chiếc bút, chủ về sinh người học rộng tài cao. Người sinh năm Giáp Tý, Quý Mão phát quý.

Hướng phong thủy phòng khách nên đặt ở cung Chính Nam.

 Ất sơn Tân hướng – 280.5 – 289.5 độ

 Song tinh hội hướng

Tuất sơn Thìn hướng – 115.5 – 124/5 độ

Thượng sơn hạ thủy

Nhà tọa ở Tuất sơn Thìn hướng thuộc Bát vận là cách cục Thượng sơn hạ thủy, nên dùng hình cục tọa không triều mãn. Trạch này lại là toàn cục hợp Liên châu tam bàn quái, do đó có thể hóa giải hung tai của cục Thượng sơn hạ thủy, nhưng vẫn cần 2 phươnghướng sơn hợp hình cục mới tốt. Phương sơn có chỗ nước hình tròn đẹp, sau nước có núi, phương hướng cũng hợp cục, như vậy mới có thể hình thành cách cục nhân đinh, tiền tài đều vượng, cửa nhà nên ở cung Càn, chủ nhân đinh vượng, nếu mở ở cung Cấn, Đoài, tài hưng vượng, nhân đinh cũng cát lợi. không nên mở ở cung vị khác. Năm Tuất, Hợi, Sửu, Dần, Thìn, Tỵ thêm nhân khẩu, chủ đại cát, không nên thêm nhân khẩu vào các năm Tý, Mão, Mùi, Thân.

• Cung Ly: Nhị hắc, Tứ lục bay đến, Nhị hắc là Bệnh phù tinh, Tứ lục là sát tinh. Do đó, phương này cần bằng phẳng. Nếu thấy thành lũy, đỉnh núi, dòng nước chiếu thẳng hoặc góc thẳng của tòa nhà xung chiếu, chủ về người vợ hung hãn, gia nghiệp suy thoái, nữ giới trong nhà dễ mắc bệnh tử cung, tuyến vú, tỳ vị.

• Cung Đoài: Hướng tinh Cửu tử bay đến, cửu tử là sao sinh khí. Phương này có chỗ nước ở xa hình tròn, chủ về Cửu vận phát tài. Nếu có đỉnh núi có hình thế hiểm ác, gia nghiệp suy bại, sinh ra người trí tuệ kém phát triển.

• Cung Cấn: Tam bích, Nhất bạch bay đến, Nhất bạch là sao sinh khí. Do đó, phương này có chỗ nước hình tròn trịa, ao hồ, sông phân 3 nhánh, chủ về tài vượng. Phương này kỵ núi cao chèn ép, nếu không người nhà dễ mắc bệnh về tai. Nếu phương này gặp núi nhô đầu, chủ về sinh phường giặc cướp.

• Cung Khảm: Tam bích, Ngũ hoàng bay đến, là tổ hợp suy tinh. Do đó, phương này nên bằng phẳng, không nên gặp hình sát. Nếu có đỉnh núi có hình thế hiểm ác, nước bẩn, dòng nước xung chiếu sẽ sinh phường trộm cướp, côn đồ, làm bại hoại gia nghiệp.

• Cung Khôn: Tứ lục, Lục bạch bay đến, là tổ hợp sát tinh. Phương này nên bằng, rộng. Nếu gặp dòng nước và thế núi với hình thế hiểm ác, người nhà muôn sự bất lợi, người mẹ gặp nhiều khó khăn.

Hướng phong thủy phòng khách nên đặt ở cung Đông Nam, Trung cung, Tây Bắc.

Thìn sơn Tuất hướng – 295.5 – 304.5 độ

Thượng sơn hạ thủy

Nhà tọa ở Thìn sơn Tuất hướng thuộc Bát vận là cách cục Thượng sơn hạ thủy, nên sử dụng hình cục tọa không triều mãn. Hướng thủ có hướng tinh Nhất bạch bay đến, Nhất bạch là sao sinh khí tương lai. Nếu phương hướng có núi hoặc kiến trúc cao, sau núi có dòng nước hội tụ là hợp cục, chủ về nhân đinh và tiền tài đều vượng nhưng được tài từ khá xa. Phương tọa có dòng nước bao quanh, 2 dòng nước hội tụ, hoặc có ao, đầm trũng cũng có lợi cho vượng tài. Nhưng phương tọa có núi cao, lầu cao hoặc kiến trúc khác, chủ về cháu đích tôn suy bại, sinh người con bất hiếu.

• Cửa lớn mở ở 2 cung Càn, Tốn, chủ về vượng tài vượng đinh. Mở ở 5 cung Khảm, Khôn, Cấn, Chấn, Ly là cách cục hung, chủ về phụ nữ gặp tai ách, gia nghiệp suy bại. Năm Tuất, Hợi, Thìn, Tỵ thêm nhân đinh cát lợi. Những năm còn lại không nên thêm nhân đinh.

• Cung Ly: Nhị hắc, Tứ lục bayđến là tổ hợp sao suy tử. Phương này nên bằng phẳng. Nếu có núi và nướcchủ về bại tài, mắc bệnh tỳ, vị, tim, não. Nếu có dòng nước chảy đâm thẳng, sinh người con bất hiếu.

• Cung Khảm: Ngũ hoàng, Tam bích bay đến là tổ hợp sao suy tử. Do đó, phương này bên bằng phẳng. Nếu có sơn thủy chủ bại tài, có bệnh gan mật, chân tay, gặp họa đột ngột, phụ nữ mang thai gặp nguy khó.

• Cung Chấn, Khôn: Là tổ hợp suy khí tinh, 2 phương vị này cần bằng phẳng, không nên thấy núi và nước.

Trung cung:Hướng sao sinh khí cửu tử nhập tù, Cửu vận gia tài lụn bại. Nếu 2 cung Càn, Tốn có dòng nước phát ra ánh sáng có thể giải tai ách nhập tù. Nếu 2 cung có núi cao đè trấn áp mà hình thù kỳ quái, chủ về nhân đinh, tiền tài đều suy bại.

Hướng phong thủy phòng khách nên đặt ở cung Tây Bắc, Chính Tây.

Tốn sơn Càn hướng (310.50 – 319.5)

Vượng sơn vượng hướng

Nhà tọa ở Tốn sơn Càn hướng và Tỵ sơn Hợi hướng ở Bát vận là cách cục Vượng sơn vượng hướng, nên sử dụng hình cục tọa mãn triều không. Tức phương hướng có dòng nước tú lệ hoặc có dòng nước phân 3 nhánh, minh đường. Tọa sơn có đỉnh núi cao đẹp, chủ về nhân: đinh và tiền tài đều vượng. Nhưng cục này sơn tinh cung Càn là Lục bạch, cung Càn phạm phục ngâm. Phương này không nên có núi cao đè, đường cửa hẹp, nếu không đàn ông lớn tuổi dễ gặp vấn đề về sức khỏe,con trưởng trí tuệ kém phát triển. Ngoài ra, hướng sao sinh khí Cửu tử nhập tù, Cửu vận tài vận suy thoái. Nếu phương hướng có dòng nước trong vắt thì có thể bổ cứu phần nào, có thể giúp đón cát tránh hung.

• Cửa nhà ở cung Càn, Tốn, đinh và tài đều vượng. Mở ở cung Đoài, Khảm, Khôn, Ly, Chấn, Cấn, chủ về bại tài, bất lợi cho người phụ nữ. Năm Tuất, Hợi, Thìn, Tỵ thêm nhân đinh sẽ cát lợi. Những năm còn lại đều không nên thêm nhân khẩu.

• Cung Khảm: Tứ lục, Nhị hắc bay đến là tổ hợp sao suy tử. Phương này nên bằng phẳng, tầm nhìn rộng, không thấy hình sát sơn thủy, chủ hao tổn nhân đinh, suy bại tiền tài.

• Cung Ly: Sơn tinh Tam bích, hướng tinh Ngũ hoàng bay đến, Ngũ hoàng là Thái cực, để tinh, tuy có khí hung sát nhưng nếu phương vị này có dòng nước phát sáng, có thể giải tai ách hướng tinh Cửu tử nhập tù. Nếu phương này thấy núi, trong nhà có giặc cướp, dễ mắc bệnh gan, mật, tim, não, huyết quản.

• Cung Chấn: Song tinh Nhị hắc và Cửu tử bay đến. Cửu tử là sao sinh khí. Phương này có đỉnh núi hình thế tú lệ chủ về vượng nhân đinh. Nếu gặp dòng nước chủ vê ngu muội, trí tuệ kém phát triển, trạch vận thoái tài.

• Cung Đoài: Sơn tinh Ngũ hoàng, hướng tinh Thất xích bay đến, Thất xích là thoái khí tinh, Ngũ hoàng là sát tinh. Phương này nên bằng phẳng, tầm nhìn rộng, gặp núi và nước chủ về nhân đinh và tiền tài suy bại, dễ bị họa bất ngờ.

• Cung Khôn: Nhất bạch, Tam bích bay đến, Nhất bạch là sao sinh khí. Phương này có núi cao đẹp, chủ vềvượng nhân đinh. Nếu có dòng nước mang sát khí, đích tôn lưu lạc không về, người nhà có bệnh gan, mật, thận, tử cung.

 Tỵ sơn Hợi hướng (325.50 – 334.5)

Vượng sơn vượng hướng

Nhâm sơn Bính hướng – 160.5 – 169.5 độ

Song tinh hội tọa

Nhà tọa ở Nhâm sơn Bính hướng tại Bát vận là cách cục Song tinh hội tọa. Nếu phương tọa có minh đường, nước 3 nhánh, ngoài nước có núi, chủ về nhân đinh và tiền tài đều vượng. Hướng tinh Thất xích là thoái khí tinh, không nên gặp nước. Sơn tinh Cửu tử là sao sinh khí, phương này có núi ở xa, trạch vận chủ vềcát. Hướng thủ là tổ hợp Thất xích, Cửu tử, nếu phương này có đỉnh núi và dòng nước hình thế thô xấu, chủ mắc bệnh về máu.

• Cửa lớn mở tại cung Khảm, cung Chấn, là cát lợi nhất; mở cửa tại cung Khôn tốt thứ hai; nếu mở cửa tại cung Đoài thì bất lợi, chủ về thương tổn đến nam giới, bất lợi cho thai phụ. Nếu mở cửa tại cung Tốn, cung Càn, chủ về hung họa, bất lợi cho người chủ gia đình. Vào các năm Tý, Mão, Mùi, Thân thêm nhân đinh Càng được cát lợi. Vào các năm Dậu, Tuất, Hợi, Thìn, Tỵ thêm nhân đinh thì chủ về hung họa.

• Cung Cấn: Sơn tinh Nhất bạch, hướng tinh Lục bạch, là tổ hợp Lục bạch, Nhất bạch, Văn khúc Vũ khúcgiao hội. Nếu phương này có núi hình thê tú lệ chủ về nhân tài quan quý. Núi nước của 2 cung Chấn và Cấn liên kết thành một dải là cát lợi nhất.

• Cung Khôn: Hướng tinh cửu tử là sao sinh khí. Cửu tử thuộc Hỏa, phương này có nước phân 3 nhánh, ao đầm, chủ về vượng tài. Nếu có núi cao lớn, hoặc có công trình kiến trúc nhọn nghiêng, chủ về mắc bệnh về lá lách, dạ dày, tử cung.

• Cung Đoài, cung Tốn: Phi tinh là tổ hợp Ngũ hoàng, Nhị hắc, sao suy tử hội tụ, vì vậy phương này nên bàng phẳng, yên tĩnh. Nếu có núi nước, chủ về có bệnh gan, phổi, yết hầu. Nếu gặp lưu niên Tử bạch Nhị hắc, Ngũ hoàng, chủ về tổn hại đến nam giới trong gia đình.

• Cung Càn: Sơn tinh Tam bích, hướng tinh Tứ lục, là tổ hợp sao suy tử, vì vậy phương này nên bằng phẳng. Nêu có núi nước, chủ về bệnh gan mật, tim não, phổi, đồng thòi chủ về nam nữ có tính phóng túng, dâm đãng, vợ chồng mâu thuẫn, gia nghiệp phá bại.

• Cung Chấn: Sơn tinh Lục bạch, hướng tinh Nhất bạch. Nhất bạch là cát tinh thống lĩnh Thượng nguyên, hội hợp Vũ khúc, chủ về cát lợi. Nếu phương này có nước trong, chủ về nhân tài phát triển nghiệp văn.

Hướng phòng khách Hướng là Cửu tử Thất xích, thường chiêu hồi họa của lộc. Cửu tử Thất xích là Hỏa sát, lại bay tới cung Ly vượng Hỏa, Càng như đổ thêm dầu vào lửa, dễ sinh ra hỏa hoạn và họa đổ máu. Phi tinh quẻ Đoài bay tới hướng thủ, Thất xích là sao suy, chủ về chuyện thị phi, phá tổn tài sản. Trong nhà có người phụ nữ độc ác, cho nên phương vị hướng đối kỵ gặp Thủy. Ở phương hướng nên đặt một cầu thủy tinh màu trắng to khoảng 3 tấc chôn hướng ra cổng. Nên dùng hộp gương hình tròn hoặc hình vuông, cũng có thể dùng đá hoa cương, hộp đá vân to để đựng.

Tý sơn Ngọ hướng – 175.5 – 184.5 độ

Song tinh hội hướng

Nhà tọa ở Tý sơn Ngọ hướng và Quý sơn Đinh hướng tại Bát vận là cách cục Song tinh hội hướng. Bátvận đương lệnh, vận tinh là Bát bạch, Tam bích, Bát bạch là bạn, hợp thành số sinh. Nếu phương này có núi lại có nước, chủ về nhân đinh và tiền tài đều vượng. Nếu phương toạ sơn tinh Cửu tử bay đến có núi ở xa cũng chủ về vượng nhân đinh. Cửa lớn nên mở tại cung Ly, chủ về nhân đinh và tiền tài đều vượng, mở tại cung Đoài cũng được cát lợi. Nếu mở tại 3 cung Càn, Tốn, Chấn, chủ về hung hoạ. Vào các năm Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, thêm nhân đinh là cát. Vào các năm khác đều là hung hoạ.

• Cung Tốn: Là tổ hợp sát tinh Tứ lục, Tam bích, hướng này cũng nên bằng phẳng, không nên gặp núi. Nêu núi nước ở gần mà hình thế hiểm ác, chủ về mắc cácbệnh gan mật, bệnh thần kinh, xuất hiện trộm cướp, côn đồ, dâm phụ, hung họa liên miên, thương đinh bại tài.

• Cung Càn, cung Chấn: Là tổ hợp sát tinh Nhị hắc, Ngũ hoàng. Cung này nên bằng phẳng, không nên gặp núi. Nếu có núi nước mà hình thế hiểm ác, chủ về mắc bệnh tật, thương tổn.

• Cung Khảm, cung Cấn: Là tổ hợp Thất xích, Cửu tử bay đến. Nếu cung Khảm có nước, cung Cấn gặp núi thường chủ về tai họa. Nếu cung Khảm gặp núi, cung Cấn gặp nước, chủ về xuất hiện người đẹp, luật sư, quân nhân, nhà ngoại giao… Nếu lưu niên Tử bạch Ngũ hoàng bay đến, chủ về mắc các bệnh tật, trúng • độc.

Cung Khôn, cung Đoài: Là Nhất bạch, Lục bạch bay đến. Nếu phương Khôn có đỉnh núi đẹp, phương Đoài có nước trong, chủ về nhân đinh và tiền tài đều thịnh vượng, lại xuất hiện văn nhân, học sỹ, người nho nhã. 2 phương vị này đều có thể làm phòng sách, phòng ngủ… Hứng phong thủy phòng khách nên đặt ở cung Chính Nam, Tây Nam, Chính Bắc.

Quý sơn Đinh hướng – 190.5 – 199.5 độ

Song tinh hội hướng

Sửu sơn Mùi hướng – 205.5 – 214.5 độ

Vượng sơn vượng hướng

Nhà tọa ở Sửu sơn Mùi hướng thuộc Bát vận là cách cục Vượng sơn vượng hướng, nên dùng hình cục tọa mãn triều không. Nếu hướng có nước, hoặc ở vùng đất thấp. Nếu tọa sơn có núi, hoặc có công trình kiến trúc cao lớn, chủ về nhân đinh và tiền tài đều vượng. Nếu nước đến phương sơn, núi tại phương hướng là hình cục tọa không triều mãn, chủ về nhân đinh và tiền tài đều suy bại. Cửa lớn của phòng nên mở tại cung Khôn là cát lợi nhất; mở tại cung Khảm, cung Ly cũng được cát lợi. Nếu mở tại cung Càn, cung Đoài chủ về mắc các chứng bệnh về gan, chân. Vào các năm Mùi, Thân, Sửu, Dần thêm nhân đinh là cát lợi nhất. Vào các năm Tý, Ngọ tốt thứ hai, các năm còn lại đều không tốt.

• Cung Ly: Là tổ hợp Nhất bạch, Thất xích, Nhất bạch thuộc Thủy, Thất xích thuộc Kim, Kim Thủy tương phùng. Phương này có dòng nước nhỏ xanh trong, hoặc ao đầm, đất trũng, chủ về cát lợi. Nếu có nước lớn xung khắc, hoặc có núi hiểm trở trấn áp chủ hung họa, vì tửu sắc mà bại tài.

• Cung Tốn, cung Chấn: 2 cung là tổ hợp suy tinh. Phương này nên bằng phẳng, không nên gặp núi nước. Nếu cung Tốn gặp núi nước, chủ về trưởng nam gặp bất lợi. Nếu cung Chấn gặp núi nước, chủ về tổn hại đến người trong nhà, lại sinh chuyện kiện tụng, vì tửu sắc mà bại gia.

• Cung Càn: Sơn tinh Nhất bạch, hướng tinh Tứ lục, là tổ hợp Nhất bạch, Tứ lục đồng cung. Nếu phương này gặp núi, gọi là văn bút, chủ về xuất hiện văn nhân chí sỹ, đường công danh thuận lợi. Nếu phương này có nước lớn tràn lan, hoặc có nước 3 nhánh, chủ về nam nữ có tính dâm đãng, vì sắc mà suy bại nhà cửa.

• Cung Khảm: Sơn tinh Lục bạch, hướng tinh cửu tử, là tổ hợp Lục bạch, Cửu tử. Cửu tử tuy là sao sinh khí, nhưng Lục bạch thuộc Kim, Kim Hỏa tương khắc. Vì vậy phương này không nên dùng sơn đỏ để sơn phòng, hoặc dùng làm xưởng luyện kim. Nếu không sẽ xuất hiện nghịch tử, hoặc chủ về chi trưởng mắc bệnh vềđường máu. Nếu phương này có nước ở xa, ao đầm,chủ về có lợi cho vượng tài.

• Cung Đoài: Sơn tinh Cửu tử, hướng tinh Tam bích bay đến, cửu tử thuộc Hỏa, Tam bích thuộc Mộc, Mộc Hỏa tương thông. Vì vậy, phương này nếu có đỉnh núi hình thế tú lệ, chủ về xuất hiện nhân tài thông minh. Nếu có nước lớn, nước 3 nhánh, chủ về xuất hiện nam tặc nữ dâm, gia nghiệp suy bại. Lưu ý

Bố cục này là đáo sơn đáo hướng. Phương hướng có dòng nước phân 3 nhánh hoặc dòng nước trong xanh, chủ về nhanh chóng phát tài, gia trạch hưng vượng, thiện giả thiện báo.

Càn sơn Tốn hướng – 130.5 – 139.5 độ

Vượng sơn vượng hướng

Hướng phong thủy phòng khách nên đặt ở cung Đông Nam, Tây Bắc. Phân tích trạch hướng

Nhà tọa ở Càn sơn Tốn hướng và Hợi sơn Tỵ hướng trong Bát vận là cách cục Vượng sơn vượng hướng, nên sử dụng hình cục tọa mãn triều không. Tức phương tọa có núi cao, hoặc có tòa nhà cao tầng, hướng thủ nên có nước hình tròn như ao, suối, 2 dòng nước giao hội, chủ về nhân đinh, tiền tài đều vượng, cửa nhà nếu mở ở 1 cung Tốn cũng chủ về nhân đinh và tiền tài đều vượng.Nếu mở ở 2 cung Khôn, Chấn, chủ về tài cát lợi. khôngnên mở ở 3 cung Khảm, Ly, Đoài, nếu không tai ách liên miên. Năm Tuất, Hợi, Thìn, Tỵ thêm nhân khẩu được cát lợi. Năm Mùi, Thân, Mão thứ thì cát. Những năm còn lại đều hung.

• Cung Chấn: Nhị hắc, Cửu tử bay đến.Cửu tử là hướng tinh sinh khí. Phương này nên có nước có hìnhtròn, chủ về được nhiều tiền tài, lợi lộc. không nên thấy núi cao, đỉnh núi sụt lở, nếu không trẻ nhỏ trí tuệ kém phát triển, người nhà mắc bệnh gan, tỳ vị, bệnh ở mắt.

• Cung Đoài: Là tổ hợp 2 sao Ngũ hoàng, Thất xích. Thất xích phạm phục ngâm. Phương vị cung này cực hung, nên bình tĩnh, nhìn xa trông rộng. Nếu phương này gặp Ngọn núi mang hình thế thô lậu hoặc có dòng nước lớn xung chiếu, chủ về phá tài, họa đột ngột, sinh ung thư phổi, ung thư vòm họng, nhân đinh suy thoái.

• Cung Ly: Tam bích, Ngũ hoàng bay đến. Phương này có Ngọn núi với hình thê tú lệ, có thể giải tai ách do Cửu vận sơn tinh nhập tù. Nếu gặp dòng nước sẽ sinh người làm cướp, người nhà dễ mắc bệnh gan, tim, mắt.

• Cung Khôn: Nhất bạch, Tam bích bay đến. Nhất bạch là hướng tinh sinh khí. Phương này có dòng nước phát ra ánh sáng, chủ về tài lộc hưng vượng mãi mãi. Phương này kỵ gặp núi cao, đỉnh núi hiểm ác, nếu không sẽ bất lợi cho mẹ, người nhà bị tật ở mắt. Nếu phương này gặp núi có đầu nhô ra, trong nhà có cướp.

Hướng phòng khách

Phòng khách nên đặt ở cung Đông Nam, Tây Bắc.

Hợi sơn Tỵ hướng – 145.5 – 154.5 độ

Vượng sơn vượng hướng

Bính sơn Nhâm hướng – 340.5 – 349.5 độ

Song tinh đáo hướng

Nhà tọa Bính sơn Nhâm hướng thuộc Bát vận là cách cục Song tinh đáo hướng. Vượng tinh Bát bạch bay đến hướng thủ. Nếu phương hướng có dòng nước đẹp đẽ hoặc có ao, dòng nước phân 3 nhánh, ngoài ra còn có núi cao, đỉnh núi đẹp, hoặc kiến trúc cao, chủ về tiền tài và nhân đinh đều vượng. Phương tọa cửu tử, Thất xích bay đến, tuy Hỏa Kim tương khắc nhưng Cửu tử là sao sinh khí. Nếu phương tọa có dòng nước bao quanh, chủ về vượng tài. Phương này không nên có kiên trúc cao, chủ về bại tài, có bệnh ở mắt, não, bất lợi cho trung nữ.

• Nhà nên mở cửa ở cung Khảm, Cấn, chủ về nhân đỉnh và tiền tài đều vượng. không nên mở cửa ở Tốn, Khôn, Đoài, Càn. Năm Tý thêm nhân đinh cát lợi nhất.Năm Sửu, Dần, Mão tốt thứ hai. Năm Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi chủ về hung họa.

• Cung Càn: Tam bích, Tứ lục bay đến, là tổ hợp suy tử sát tinh. Phương này nên bằng phẳng, địa thế rộng. Nếu có đỉnh núi và dòng nước mang hình thế thô xấu, chủ về bại tài, sinh ra người làm nghề kỹ nữ, mắc bệnh gan, mật.

• Cung Tốn, Đoài: Nhị hắc, Ngũ hoàng bay đến, Nhị hắc là Bệnh phù tinh, Ngũ hoàng là sát tinh. 2 vị trí này nên bằng phẳng, nếu có núi mang hình thế hiểm ác, cao lớn hoặc có dòng nước bẩn xung thẳng, chủ về nhân đinh không vượng, tật bệnh liên miên, tai nạn bất ngờ.

• Cung Khôn: Là tổ hợp Thất xích, Cửu tử. Phương này nên có đỉnh núi phía xa, nếu có dòng nước lớn xung thẳng chủ về hỏa hoạn, thiếu nữ có thể gặp tai ách, nữ giới bất hòa.

• Cung Ly: Thất xích, cửu tử bay đến, Hỏa khắc Kim. Phương này nên có dòng nước phía xa, nếu có núi cao, hình thế hiểm ác chủ về có tai họa hồi lộc, thiếu nữ gặp tai ách, phụ nữ mang thai dâm loạn. Ngoài ra, còn chủ về bệnh tim, não, phổi, dạ dày, môi, mắt.

Cung Cấn, Chấn: Là tổ hợp Nhất bạch, Lục bạch. Nếu cung Cấn, Chấn đều có nước có núi, chủ về 20 năm đại vượng, có văn nhân, chí sỹ. Phòng khách nên đặt ở cung Chính Đông, Chính Bắc

Canh sơn Giáp hướng – 70.5 – 79.5 độ

Song tinh hội hướng

Nhà tọa ở Canh sơn Giáp hướng ở Bát vận là cách cục Song tinh hội hướng. Cục trạch này song Bát hội Vũ khúc, hợp cách cục “Kim rắn gặp Thổ”, chủ về phú quý. Hướng thủ phải có sông hồ đẹp bao quanh, có ao đầm, sau sông có núi, chủ phú quý lâu dài. Tọa sơn suy tinh sát khí, nạn tinh bay đến, cần bằng phẳng, tầm nhìn rộng, kỵ núi và nước đáo tọa, chủ về gia nghiệp suy thoái, trong nhà sinh nhiều chuyện. Nếu gặp phản cung thủy, phản bới sơn, thám đầu sơn, cầu, chủ về trong nhà có giặc cướp, người hành khất. Nếu gặp Ngọn núi cao, hình thế hiểm ác chèn ép là cách cục hung, chủ về người hành khất, tai nạn xe cộ, hình sát, bệnh ở chân, gan, phổi, cổ họng, đại tràng.

• Cửa nhà mở ở cung Chấn, tiền tài và nhân đinh hưng vượng, mọi việc đều thuận. Nếu mở ở cung Khảm, chủ về sinh văn nhân, chí sỹ, tài và đinh đều vượng. Mở ở cung vị khác là hung họa. Năm Tý, Mão thêm nhân đinh cát lợi nhất. Năm Mùi, Thân thứ cát. Những năm còn lại hung họa.

• Cung Cấn: Tam bích, Tứ lục bay đến, là tổ hợp sát tinh. Do đó, phương này nên bằng rộng, kỵ núi và nước, đặc biệt dòng nước và thế núi với hình thế hiểm ác, núi cao đè nén, dòng nước thô xấu xung chiếu, chủ về gia nghiệp suy bại, trong nhà có kỹ nữ, đạo tặc, ăn xin, có bệnh ở chân, tỳ vị, gan mật.

• Cung Khảm: Sơn tinh Lục bạch, hướng tinh Nhất bạch, Nhất Lục là tổ hợp Văn xương. Phương này cố sông suốihình tròn đẹp hoặc có minh đường, dòng nước phân 3 nhánh, hợp khẩu quyết thành môn, chủ về gia khí tích tụ lâu dài, phúc lộc song toàn.

• Cung Khôn: Sơn tinh Thất xích, hướng tinh Cửu tử bay đến, cửu tử là sao sinh khí. Do đó, phương này có sống ở xa, đẹp, sau khi vào Cửu vận, tài vận hanh thông. Nếu gặp núi cao đỉnh đẹp, chủ về bại tài, có tai họa hồi lộc, mẹ có bệnh, người nhà dễ bị bệnh huyết quản, tử cung, tỳ vị.

• Cung Càn, Ly: Là tổ hợp Nhị hắc, Ngũ hoàng bay đến, Nhị hắc là Bệnh phù tinh, Ngũ hoàng là sát khí.Phương này nên phẳng, rộng, kỵ núi và nước, đặc biệt dòng nước và thế núi với hình thế hiểm ác, chủ về sinh người cô độc, người nhà dễ bị bệnh huyết quản, tim, não, chân, tỳ vị, mắt.

Hướng phòng khách

Phòng khách nên đặt ở cung Chính Bắc.

Dậu sơn Mão hướng – 80.5 – 94.5 độ

Song tinh hội tọa

Nhà tọa ở Dậu sơn Mão hướng và Tân sơn Ất hướng thuộc Bát vận là cách cục Song tinh hội tọa. Phương tọa nếu có đỉnh núi cao, hoặc kiến trúc cao lớn, sau núi lại có chỗ nước hình tròn như ao, dòng nước phân 3 nhánh, chủ về nhân đinh và tiền tài đều vượng. Phương hướng là Tam bích, Tứ lục bay đến, là tổ hợp sát tinh, do đóphương hướng nên bằng phẳng, rộng rãi, kỵ có sơn thủy, nếu có núi nhô đầu, cầu, nhà cũ, tháp truyền hình sẽ xuất hiện trộm cướp, ăn xin trong nhà, người nhà dễ mắc bệnh gan mật, bệnh ở lưng.

• Cửa nhà ở mở cung Đoài, chủ nhân đinh và tiền tài đều vượng, nếu mở ở cung Ly, chủ về người văn võ song toàn. Nếu mở ở cung Cấn, Cửu vận chủ về tài vượng, cung vị khác không nên mở cửa. Năm Mậu, Kỷ, Tân, Dậu thêm nhân khẩu vượng nhất. Năm Mùi, Thân, Tý, Mão, Thìn, Tỵ thêm nhân khẩu là hung họa.

• Cung Càn: Sơn tinh cửu tử bay đến, cửu tử là sao sinh khí. Do đó, phương này có đỉnh núi hình thế tú lệ hoặc vật kiến trúc cao vừa phải, người già trong nhà trường thọ, có luật sư, quan tòa, bác sỹ ngoại khoa. Phương này kỵ có núi cao trấn áp, sống chảy thẳng, nếu không trong nhà gặp tai họa hồi lộc, có kẻ dâm tà, người nhà dễ mắc bệnh huyết quản, tim, não, phổi, đại tràng, bệnh ở chân.

• Cung Khôn, Tốn, Khảm: 3 cung là tổ hợp sát tinh, suy tinh. 3 phương vị này nên bằng phẳng, rộng, kỵ có đòng nước và thế núi, đặc biệt nếu có dòng nước và thế núi vớihình thế hiểm ác hoặc nhà cũ, cầu, cây khô, chủ về hung tai.

• Cung Ly: Nhất bạch, Lục bạch bay đến Phương này có chỗ nước hình tròn đẹp, như ao, hồ, dòng nước phân 3 nhánh hoặc có minh đường, ngoài ra còn có núi ở xa, chủ về có người giỏi cả văn lẫn võ, phú quý lâu dài.

• Cung Cấn: Hướng tinh cửu tử đến, nên có nước như ao đầm, nước tĩnh không động, chủ về nguồn tài nhiều. Cung vị này 2 âm tinh cửu tử, Thất xích hội tụ, nếu ẩm ướt u tối, bế tắc không thông hoặc gặp hình sát, chủ về đam mê tửusắc để lại tiếng xấu. Nếu có núi cao đè, chủ về hỏa hoạn, bệnh ở chân, tỳ vị, phổi, huyết quản, tim, não. Phòng khách nên đặt ở cung Chính Tây, Trung cung

Tân sơn Ất hướng – 100.5 – 109.5 độ

Song tinh hội tọa

>> 80 Phương pháp khai vận Phong thuỷ nhà

:: Vị trí Bếp theo vận bàn

Cửa bếp (Hoả môn) · Hướng về 

Nhất bạch

, là vị trí thích hợp, tượng trưng có thể đạt đến thuỷ hoả ký kế. · Hướng về 

Tứ lục

 là 

Mộc sinh Hoả

, cũng là bếp tốt. · Hướng về 

Bát bạch

Hoả sinh Thổ

, cát trung · Hướng về 

Cửu Tử

bình thường

.

Hướng về 

Thất xích

 & 

Cửu Tử

 đồng cung, sẽ gặp hoạ Hoả sát Kim. (xấu) · Hướng về 

Tam Bích

 hoặc 

Ngũ hoàng

, do 

Nhị, Ngũ

 tượng trưng Nữ chủ nhân, cho thấy Nữ chủ nhân trong gia đình tâm trạng khó vui vẻ, có thể dễ mắc bệnh, gọi là “bệnh táo”, Bếp ở Nhị hắc, 

Ngũ hoàng

 đều là bố cục không tốt. (xấu)

Lưu ý khác: Bếp và Nhà vệ sinh đều không được nằm ở trung cung ngôi nhà, ảnh hưởng đến sức khoẻ.

Tương sinh / Tỷ vượng / Thoái khí / Xung sát / Lao tử

          Thước lỗ ban · Thước lỗ ban 52,2 cm: Để đo khối rỗng, các khoảng thông thủy trong nhà như: Ô cửa sổ, ô tháng, cửa chính, cả đi, cửa sổ… · Thước lỗ ban 42,9 cm: Để đo khối đặc, các chi tiết trong nhà, đồ đạc nội thất: Kích thước giường tủ, bệ bếp, bậc…v…v… · Thước lỗ ban 38,8 cm: Để đo kích thước âm trạch: Mồ mả, tiểu, quách, ban thờ…

:: Kích thước tủ thờ

Chiều ngang (dài): 127 cm ; 157 cm ; 175 cm , 197 cm , 217 cm … · Chiều sâu (rộng): 61 cm ; 69 cm ; 81 cm , 97 cm , 107 cm, 117 cm … · Chiều cao : 117 cm ; 127 cm …

:: Kích thước bàn thờ treo phổ thông.

Kích thước bàn thờ treo tường Sâu 480 mm (Hỷ Sự) x Rộng 810 mm (Tài Vượng) · Kích thước bàn thờ treo tường Sâu 480 mm (Hỷ sự) x Rộng 880 mm (Tiến Bảo) · Kích thước bàn thờ treo tường Sâu 495mm (Tài Vượng) x Rộng 950 mm (Tài Vượng) · Kích thước bàn thờ treo tường Sâu 560 mm (Tài Vượng) x Rộng 950 mm (Tài Vượng) · Kích thước bàn thờ treo tường Sâu 610 mm (Tài Lộc) x Rộng 1070mm (Quý Tử)

       Vị trí Nhà vệ sinh

Không được gần cửa chính. Không được giữa nhà · Không nên ở Tây Bắc · Không nên nhiều vị trí của các tầng · Không được vào cửa chính thấy ngay nhà vệ sinh. · Không nên thiết kế cùng nhà bếp. · Tránh ẩm thấp mất vệ sinh, nên sạch sẽ, hút ẩm, thường xuyên đóng cửa lại.

          Bổ cứu góc khuyết

Nhà nên vuông vắn là nhà tốt, mỗi góc trong nhà là một hướng, đại diện một thành viên, giả dụ khuyết góc Đông, gia chủ sẽ khó có con trai hoặc con trai không ở cùng. :: Cách bổ cứu khuyết góc: (treo tranh hoặc bày đồ chơi) · Khuyết góc ở hướng 

Đông

: treo bức tranh hình con thỏ, mèo. · Khuyết góc ở hướng 

Đông Nam

: treo tranh Rồng. · Khuyết góc ở hướng 

Nam

: treo tranh hoặc tượng Ngựa. · Khuyết góc ở hướng 

Tây Nam

: treo tranh hoặc tượng Dê, Trâu, Khỉ. · Khuyết góc ở hướng Tây: treo tranh hoặc tượng Gà. · Khuyết góc ở hướng Tây Bắc: treo tranh hoặc tượng Chó, heo (cần Hoả hình Chó, cần Thuỷ hình Heo). · Khuyết góc ở hướng 

Bắc

: treo tranh hoặc tượng Chuột, Chuột Micky. · Khuyết góc ở hướng 

Đông Bắc

: treo tranh hoặc tượng đứa trẻ cởi Trâu, hoặc mèo, hổ.

          Thúc đẩy tài vị trong nhà, kinh doanh

Tài vị chính là phương vị trực tiếp ảnh hưởng đến tài vận, nằm ở vị trí góc nghiêng “bên trái” hoặc “bên phải” từ cửa chính.

Đặt các vật cát tường vào tài vị có thể thúc đẩy được vận tài: Thần tài, Nguyên bảo, Bình hoa, Kỳ lân, Cầu thạch anh, bưởi, cam, trúc phú quý, cóc vàng 3 chân…

:: Nên

1. Giữ cho vị trí tài vị sáng sủa, sạch sẽ, sẽ có dương khí tụ lại · 2. Đặt các vật cát tường hoặc cây có lá rộng · 3. Đặt đồ dùng có người lui tới: sofa, ghế, bàn ăn…

:: Không nên

Tài vị bị đè nén: tủ áo, kệ sách, tủ cao · Bể cá, cây cảnh có nước · Không có điểm tựa vững, ví dụ: cửa sổ, đường qua lại, sân thượng. · Nhà vệ sinh, kho, nơi để tạp vật · Bị sự xung xạ các góc nhọn, vật nhọn · Tăm tối, không đủ không khí lưu thông hoặc nằm ở góc chết.

          Phúc nguyên

Phúc nguyên là một danh từ tương đối phức tạp trong Phong thuỷ, nói đơn giản nó đại diện sự giúp đỡ trong Tam hợp cục. Mệnh chủ có thể lựa chọn vị trí đặt vật phẩm ngũ hành cần vào, theo Bát tự mệnh khuyết

Cần Thuỷ, Phúc nguyên tại: Thân, Tý, Thìn.

Cần Kim, Phúc nguyên tại : Tỵ, Dậu, Sửu.

Cần Hoả, Phúc nguyên tại : Dần, Ngọ, Tuất.

Cần Mộc, Phúc nguyên tại : Hợi, Mão, Mùi.

Cần Thổ, Phúc nguyên tại : Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

Đơn giản hơn, dựa vào năm sinh có thể chọn vị trí Phúc nguyên để ngủ dựa theo tam hợp trên.

          Hàm trì: đào hoa, tình yêu

Hàm trì chỉ về vận đào hoa, tình yêu, tình dục, gặp gỡ nhiều người. Đào hoa được phân theo đào hoa tường nội và đào hoa tường ngoại. Bày trí không khéo dẫn đến đào hoa sát.

:: Đào hoa theo con giáp

Tuổi: Thân, Tý, Thìn: đào hoa tại “DẬU” hướng Tây.

Tuổi: Tỵ, Dậu, Sửu: đào hoa tại “NGỌ”” hướng Nam.

Tuổi: Dần, Ngọ, Tuất: đào hoa tại “MÃO”” hướng Đông.

Tuổi:  Hợi, Mão, Mùi: đào hoa tại “TÝ”” hướng Bắc.

Nếu chồng bạn tuổi Ngọ, bạn đặt hình nữ minh tinh ở hướng Đông hoặc phương Tây bắc trong nhà sẽ gây nhiều phiền phức, vì Tây bắc còn đại diện cho Nam chủ nhân, tương tự Tây Nam đại diện nữ chủ nhân.

Dịch mã: chủ về du lịch, đi xa, di chuyển, thay đổi

Nếu tháng này hành Dịch mã tất trong tháng sẽ đi du lịch. Thời thìn hành Dịch mã tất thời gian này sẽ ra khỏi nhà.

Mã là tượng trưng cho thay đổi biến động, Trong Bát tự gặp nó, đại diện người này có tính hướng ngoại, thích ngao du khắp nơi. Trong bát tự của thương nhân, quân nhân, nhà ngoại giao thường mang nhiều Mã tinh. Mã tinh còn là tiên chí cho xuất ngoại. Nếu Mã tinh bị hợp thì tuy có cũng bằng không, Mã tinh bị xung thì ngày đi ngìn dặm. Phụ nữ có nhiều Mã tinh chủ về thân tâm bất an, là tượng bất lợi.

Muốn hành dịch mã, gia chủ có thể bày trí vật theo tiêu sinh tại hướng đó sẽ dễ hành vận, ví dụ bạn tuổi Thân, Tý, Thìn hãy đặt tượng con Hổ, tranh Hổ ở hướng Dần (Đông Bắc)

Tuổi: Thân, Tý, Thìn: Dịch mã tại “DẦN” (Đông Bắc).

Tuổi: Tỵ, Dậu, Sửu: Dịch mã tại “HỢI” (Tây bắc).

Tuổi: Dần, Ngọ, Tuất: Dịch mã tại “THÂN” (Tây Nam).

Tuổi:  Hợi, Mão, Mùi: Dịch mã tại “TỴ” (Đông Nam).

24 Sơn, 8 Hướng Trên La Bàn 24 Sơn Hướng Trên La Bàn, 24 Sơn Hướng Trong Phong Thủy

Hậu thiên Bát tai quái của Văn Vương được chia làm 8 hướng những nhau, cùng với từng hướng đi liền với một số của Cửu tinh: phía BẮC (số 1), ĐÔNG BẮC (số 8), ĐÔNG (số 3), ĐÔNG NAM (số 4), NAM (số 9), TÂY NAM (số 2), TÂY (số 7) , TÂY BẮC (số 6). Riêng số 5 vày nằm tại vị trí ở vị trí chính giữa (trung cung) cần không có pmùi hương hướng. Đem áp đặt Hậu thiên Bát quái quỷ lên la bàn tất cả 360 độ, thì mỗi hướng (tốt mỗi số) sẽ chỉ chiếm 45 độ trên la bàn.

Bạn đang xem: La bàn 24 sơn hướng

Vào thời kỳ phôi pnhị của học thuật Phong tbỏ (thời công ty Chu), Việc phân chia la bàn thành 8 hướng điều đó đã có được nhắc là quá tinch vi và đúng đắn. Nhưng sau đây, Khi cỗ môn Phong tbỏ vẫn gồm có bước tiến vượt bậc dưới thời Đường – Tống, khoảng cách 45 độ được xem là quá to cùng rơi lệch qúa các. Để cho chính xác rộng, người ta lại phân tách mỗi hướng ra phía thành 3 đánh phần đông nhau, từng tô chiếm phần 15 độ. do đó trên la bàn từ bây giờ sẽ xuất hiện 24 đánh. Người ta lại sử dụng 12 Địa Chi, 8 Thiên Can (đúng ra là 10, tuy vậy 2 Can Mậu-Kỷ được quy về trung cung mang lại Ngũ Hoàng phải chỉ còn 8 Can) với 4 quẻ Càn – Khôn – Cấn – Tốn nhưng đặt tên cho 24 sơn như sau:

– Hướng BẮC (số 1): Gồm 3 tô NHÂM-TÝ-QUÝ- Hướng ĐÔNG BẮC (số 8): 3 sơn SỬU-CẤN-DẦN- Hướng ĐÔNG (số 3): 3 tô GIÁP-MÃO-ẤT- Hướng ĐÔNG NAM (số 4) 3 đánh THÌN-TỐN-TỴ- Hướng NAM (số 9): 3 sơn BÍNH-NGỌ-ĐINH- Hướng TÂY NAM (số 2): 3 sơn MÙI-KHÔN-THÂN- Hướng TÂY (số 7): 3 tô CANH-DẬU-TÂN- Hướng TÂY BẮC (số 6): 3 đánh TUẤT-CÀN-HỢI

Tất cả 24 tô trên la bàn đều được xếp theo thiết bị tự từ bỏ trái lịch sự đề nghị theo hướng kyên đồng hồ thời trang. Chẳng hạn như phía BẮC gồm 3 đánh là NHÂM-TÝ-QUÝ, sơn NHÂM chiếm 15 độ phía bên trái, sơn TÝ chiếm phần 15 độ địa điểm ở vị trí chính giữa phía BẮC, còn sơn QUÝ thì chiếm phần 15 độ phía bên nên. Tất cả các tô không giống cũng các theo thứ tự như thế.

Mỗi sơn được xác định cùng với số độ chính giữa như: sơn NHÂM tại 345 độ; TÝ 360 độ tuyệt 0 độ; QUÝ 15 độ; SỬU 30 độ; CẤN 45 độ; DẦN 60 độ; GIÁPhường 75 độ; MÃO 90 độ; ẤT 105 độ; THÌN 1đôi mươi độ; TỐN 135 đô; TỴ 150 độ; BÍNH 165 độ; NGỌ 180 độ; ĐINH 195 độ; MÙI 210 độ; KHÔN 225 độ; THÂN 240 độ; CANH 255 độ; DẬU 270 độ; TÂN 285 độ; TUẤT 300 độ; CÀN 315 độ; HỢI 330 độ;

Phần trên là tọa độ ở vị trí chính giữa của 24 đánh. Từ tọa độ đó người ta hoàn toàn có thể tìm thấy phạm vi của mỗi tô chiếm phần đóng trên la bàn, bằng phương pháp đi ngược thanh lịch phía trái, cũng giống như sang bên bắt buộc của tọa độ trung chổ chính giữa, mỗi bên là 7 độ 5 (bởi vì phạm vi từng tô chỉ có 15 độ). Chẳng hạn nlỗi hướng MÙI có tọa độ trung vai trung phong là 210 độ. Nếu đi ngược quý phái bên trái 7 độ 5 (Tức là trừ đi 7 độ 5) thì được 202 độ 5. Sau đó tự tọa độ trung trung khu là 210 độ lại đi thuận qua phải 7 độ 5 (Tức là cộng thêm 7 độ 5) thì được 217 độ 5. bởi vậy phạm vi tô MÙI đang bước đầu tự 202 độ 5 với hoàn thành tại 217 độ 5 trên la bàn.

Tọa độ của 2bốn phương trên la bàn Chính Hướng cùng Kiêm Hướng

Một vụ việc có tác dụng cho những người bắt đầu học Phong thủy tương đối hoảng loạn là chũm nào là Chính Hướng và kiêm Hướng? Thật ra, vấn đề đó cũng không trở ngại gì cả, bởi vì Khi đo phía bên (tuyệt hướng mộ) mà giả dụ thấy hướng nhà (xuất xắc hướng tuyển mộ đó) nằm ở vị trí tọa độ trung trung khu của một sơn (bất cứ là tô nào) thì phần lớn được xem là Chính Hướng. Còn nếu như không đúng cùng với tọa độ trung tâm điểm của một đánh thì được xem là Kiêm Hướng. Kiêm hướng lại chia ra là kiêm bên đề nghị hoặc kiêm bên trái, rồi kiêm các tốt kiêm không nhiều. Nếu kiêm bên bắt buộc hoặc kiêm phía bên trái thì hướng nhà không được xem là thuần khí nữa, vì đã lấn lịch sự phạm vi của tô cạnh bên (điều này đã phân tích hơn vào phần Tam ngulặng long). Nói kiêm đề nghị giỏi kiêm trái là mang tọa độ trung tâm điểm của mỗi tô có tác dụng trung vai trung phong nhưng tính. Chẳng hạn nhỏng đánh MÙI có tọa độ trung vai trung phong là 210 độ. Nếu bây giờ 1 căn đơn vị có hướng là 215 độ thì bên đó trực thuộc phía MÙI (vày đánh MÙI ban đầu từ khoảng chừng 202 độ 5 cùng xong trên 217 độ 5), mà lại kiêm mặt nên 5 độ. Nhưng trong thuật ngữ Phong tbỏ thì tín đồ ta lại không nói kiêm cần hoặc trái, mà lại cần sử dụng tên của rất nhiều hướng được kiêm để điện thoại tư vấn nhập phổ biến cùng với vị trí hướng của nơi ở đó. Nhỏng trong trường hợp này là nhà phía MÙI kiêm đề xuất 5 độ, tuy nhiên vì phía mặt đề xuất của phía MÙI là hướng KHÔN, yêu cầu người ta sẽ nói bên này “phía MÙI kiêm KHÔN 5 độ” Tức là kiêm lịch sự bên đề xuất 5 độ mà thôi.

Riêng cùng với sự việc kiêm những hay không nhiều thì một hướng giả dụ chỉ lệch sang mặt đề nghị hoặc phía trái khoảng chừng 3 độ đối với tọa độ trọng điểm điểm của phía kia thì được xem là kiêm không nhiều, với vẫn còn giữa được thuần khí của phía. Còn trường hợp lệch quá 3 độ đối với trung chổ chính giữa của 1 hướng thì được xem như là lệch các, bắt buộc khí lúc đó không thuần và coi nhỏng bị nhận nhiều tạp khí. Những trường phù hợp này rất cần phải dùng Thế quái quỷ (xuất xắc số cầm, vẫn nói trong 1 thời điểm khác) để mong muốn mang được vượng khí cho tới hướng hầu biến đổi hung thành cát mà lại thôi.

Tam nguim long

Sau khi đang biết được 24 tô (tốt hướng) thì còn phải ghi nhận bọn chúng ở trong về Nguyên như thế nào, với là dương giỏi âm, để hoàn toàn có thể xoay chuyển phi tinch Thuận tốt Nghịch khi lập trạch vận. Nguyên ổn này không phải là “Nguyên” chỉ thời hạn nlỗi sẽ nói trong “Tam Nguyên ổn Cửu Vận”, nhưng mà là chỉ địa khí của long mạch, xuất xắc phương hướng của trái đất mà thôi.

Tam ngulặng long gồm những: Địa nguyên ổn long, Thiên nguyên ổn long, cùng Nhân nguyên ổn long. Mỗi Ngulặng bao gồm 8 sơn (tốt 8 hướng), trong đó gồm 4 sơn dương và 4 đánh âm nlỗi sau:

– THIÊN NGUYÊN LONG: bao hàm 8 đánh :

4 đánh dương: CÀN, KHÔN, CẤN, TỐN.4 tô âm: TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU.

– ĐỊA NGUYÊN LONG: bao hàm 8 sơn:

4 sơn dương: GIÁPhường, CANH, NHÂM, BÍNH.4 tô âm: THÌN, TUẤT, SỬU, MÙI.

– NHÂN NGUYÊN LONG: bao hàm 8 sơn:

4 tô dương: DẦN, THÂN, TỴ, HỢI.4 sơn âm: ẤT, TÂN, ĐINH, QUÝ.

Với sự phân định âm xuất xắc dương của từng phía nhỏng bên trên, fan ta rất có thể biết được cơ hội như thế nào phi tinc đang đi thuận hoặc là di chuyển nghịch lúc xoay chuyển bọn chúng theo vòng LƯỢNG THIÊN XÍCH. (điều này sẽ được nói rõ trong phần lập tinc bàn cho trạch vận tại 1 mục khác).

Ngoài ra, giả dụ quan sát kỹ vào sự phân loại của Tam nguyên ổn Long ta sẽ thấy trong những hướng của Bát quái ác được tạo thành 3 sơn, và bao hàm đầy đủ cha Nguyên: Địa, Thiên cùng Nhân, theo chiều kyên ổn đồng hồ. Thí dụ nhỏng hướng BẮC được chia thành 3 đánh là NHÂM-TÝ-QUÝ, cùng với NHÂM thuộc Địa ngulặng long, TÝ trực thuộc Thiên nguyên ổn long, cùng QUÝ nằm trong Nhân nguyên ổn long.

Các phía còn sót lại cũng những như thế, tức thị Thiên ngulặng long làm việc ở trung tâm, Địa ngulặng long nằm sát phía tay trái, còn Nhân nguim long thì nằm cạnh phía tay nên. Từ đó người ta bắt đầu minh bạch ra Thiên nguyên long là quẻ Phụ chủng loại, Địa nguim long là Nghịch tử (vì nằm sát tay trái của Thiên nguyên long có nghĩa là nghịch chiều luân chuyển gửi của vạn vật), còn Nhân nguyên ổn long là Thuận tử. Trong 3 nguyên ổn Địa-Thiên-Nhân thì Thiên cùng Nhân là rất có thể kiêm được với nhau (vày là giữa phú mẫu và thuận tử). Còn Địa nguyên long là nghịch tử chỉ rất có thể đứng một mình, tất yêu kiêm prúc chủng loại xuất xắc thuận tử. Nếu Địa kiêm Thiên có nghĩa là âm khí và dương khí lộn lạo (tốt âm dương sai thố). Nếu Địa kiêm Nhân thì sẽ bị xuất tai quái.

Ngược lại, ví như một căn công ty được đặt theo hướng là 185 độ, Có nghĩa là phía NGỌ kiêm ĐINH 5 độ. Vì NGỌ là quẻ Phú mẫu mã, kiêm quý phái mặt cần tức là kiêm Thuận tử bắt buộc bên như thế vẫn giỏi chứ không xấu. Đây là 1 trong những Một trong những nhân tố cnạp năng lượng bạn dạng cùng đặc biệt của Huyền ko Học, cần biết và rành mạch cụ thể. Có điều này mới hiểu rằng Mặc dù 2 đơn vị thuộc 1 trạch vận, nhưng mà đơn vị thì làm cho nạp năng lượng khá, hầu hết tín đồ quý phái, tất cả khí phách, còn bên thì thông thường, nhỏ người cũng chỉ nhỏ tuổi mọn, đều đều nhưng thôi. Cho đề nghị sự quý, luôn tiện của 1 căn nhà phần lớn là vì có biết lựa chọn đúng hướng hoặc biết kiêm hướng hay không nhưng ra. Những điều này sẽ tiến hành phân tích hơn vào phần Lập phía và Kiêm phía.

24 Sơn Hướng Trong Phong Thủy

Hậu thiên Bát quái của Văn Vương được chia làm 8 hướng đều nhau, với mỗi hướng đi liền với một số của Cửu tinh: hướng BẮC (số 1), ĐÔNG BẮC (số 8), ĐÔNG (số 3), ĐÔNG NAM (số 4), NAM (số 9), TÂY NAM (số 2), TÂY (số 7) , TÂY BẮC (số 6). Riêng số 5 vì nằm ở chính giữa (trung cung) nên không có phương hướng. Đem áp đặt Hậu thiên Bát quái lên la bàn gồm 360 độ, thì mỗi hướng (hay mỗi số) sẽ chiếm 45 độ trên la bàn.

Vào thời kỳ phôi phai của học thuật Phong thủy (thời nhà Chu), việc phân chia la bàn thành 8 hướng như vậy đã được kể là quá tinh vi và chính xác. Nhưng sau này, khi bộ môn Phong thủy đã có những bước tiến vượt bậc dưới thời Đường – Tống, khoảng cách 45 độ được xem là quá lớn và sai lệch qúa nhiều. Để cho chính xác hơn, người ta lại chia mỗi hướng ra thành 3 sơn đều nhau, mỗi sơn chiếm 15 độ. Như vậy trên la bàn lúc này đã xuất hiện 24 sơn. Người ta lại dùng 12 Địa Chi, 8 Thiên Can (đúng ra là 10, nhưng 2 Can Mậu-Kỷ được quy về trung cung cho Ngũ Hoàng nên chỉ còn 8 Can) và 4 quẻ Càn – Khôn – Cấn – Tốn mà đặt tên cho 24 sơn như sau:

– Hướng BẮC (số 1): Gồm 3 sơn NHÂM-TÝ-QUÝ – Hướng ĐÔNG BẮC (số 8): 3 sơn SỬU-CẤN-DẦN – Hướng ĐÔNG (số 3): 3 sơn GIÁP-MÃO-ẤT – Hướng ĐÔNG NAM (số 4) 3 sơn THÌN-TỐN-TỴ – Hướng NAM (số 9): 3 sơn BÍNH-NGỌ-ĐINH – Hướng TÂY NAM (số 2): 3 sơn MÙI-KHÔN-THÂN – Hướng TÂY (số 7): 3 sơn CANH-DẬU-TÂN – Hướng TÂY BẮC (số 6): 3 sơn TUẤT-CÀN-HỢI

Tất cả 24 sơn trên la bàn đều được xếp theo thứ tự từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ. Chẳng hạn như hướng BẮC có 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝ, sơn NHÂM chiếm 15 độ phía bên trái, sơn TÝ chiếm 15 độ nơi chính giữa hướng BẮC, còn sơn QUÝ thì chiếm 15 độ phía bên phải. Tất cả các sơn khác cũng đều theo thứ tự như thế.

Mỗi sơn được xác định với số độ chính giữa như: sơn NHÂM tại 345 độ; TÝ 360 độ hay 0 độ; QUÝ 15 độ; SỬU 30 độ; CẤN 45 độ; DẦN 60 độ; GIÁP 75 độ; MÃO 90 độ; ẤT 105 độ; THÌN 120 độ; TỐN 135 đô; TỴ 150 độ; BÍNH 165 độ; NGỌ 180 độ; ĐINH 195 độ; MÙI 210 độ; KHÔN 225 độ; THÂN 240 độ; CANH 255 độ; DẬU 270 độ; TÂN 285 độ; TUẤT 300 độ; CÀN 315 độ; HỢI 330 độ;

Phần trên là tọa độ chính giữa của 24 sơn. Từ tọa độ đó người ta có thể tìm ra phạm vi của mỗi sơn chiếm đóng trên la bàn, bằng cách đi ngược sang bên trái, cũng như sang bên phải của tọa độ trung tâm, mỗi bên là 7 độ 5 (vì phạm vi mỗi sơn chỉ có 15 độ). Chẳng hạn như hướng MÙI có tọa độ trung tâm là 210 độ. Nếu đi ngược sang bên trái 7 độ 5 (tức là trừ đi 7 độ 5) thì được 202 độ 5. Sau đó từ tọa độ trung tâm là 210 độ lại đi thuận qua phải 7 độ 5 (tức là cộng thêm 7 độ 5) thì được 217 độ 5. Như vậy phạm vi sơn MÙI sẽ bắt đầu từ 202 độ 5 và chấm dứt tại 217 độ 5 trên la bàn.

Tọa độ của 24 hướng trên la bàn Chính Hướng và Kiêm Hướng

Một vấn đề làm cho người mới học Phong thủy khá bối rối là thế nào là Chính Hướng và kiêm Hướng? Thật ra, điều này cũng không khó khăn gì cả, vì khi đo hướng nhà (hay hướng mộ) mà nếu thấy hướng nhà (hay hướng mộ đó) nằm tại tọa độ trung tâm của 1 sơn (bất kể là sơn nào) thì đều được coi là Chính Hướng. Còn nếu không đúng với tọa độ tâm điểm của 1 sơn thì được coi là Kiêm Hướng. Kiêm hướng lại chia ra là kiêm bên phải hoặc kiêm bên trái, rồi kiêm nhiều hay kiêm ít. Nếu kiêm bên phải hoặc kiêm bên trái thì hướng nhà không được xem là thuần khí nữa, vì đã lấn sang phạm vi của sơn bên cạnh (điều này sẽ nói rõ hơn trong phần Tam nguyên long). Nói kiêm phải hay kiêm trái là lấy tọa độ tâm điểm của mỗi sơn làm trung tâm mà tính. Chẳng hạn như sơn MÙI có tọa độ trung tâm là 210 độ. Nếu bây giờ 1 căn nhà có hướng là 215 độ thì nhà đó thuộc hướng MÙI (vì sơn MÙI bắt đầu từ khoảng 202 độ 5 và chấm dứt tại 217 độ 5), nhưng kiêm bên phải 5 độ. Nhưng trong thuật ngữ Phong thủy thì người ta lại không nói kiêm phải hoặc trái, mà lại dùng tên của những hướng được kiêm để gọi nhập chung với hướng của ngôi nhà đó. Như trong trường hợp này là nhà hướng MÙI kiêm phải 5 độ, nhưng vì hướng bên phải của hướng MÙI là hướng KHÔN, nên người ta sẽ nói nhà này “hướng MÙI kiêm KHÔN 5 độ” tức là kiêm sang bên phải 5 độ mà thôi.

Riêng với vấn đề kiêm nhiều hay ít thì 1 hướng nếu chỉ lệch sang bên phải hoặc bên trái khoảng 3 độ so với tọa độ tâm điểm của hướng đó thì được coi là kiêm ít, và vẫn còn giữa được thuần khí của hướng. Còn nếu lệch quá 3 độ so với trung tâm của 1 hướng thì được coi là lệch nhiều, nên khí lúc đó không thuần và coi như bị nhận nhiều tạp khí. Những trường hợp này cần được dùng Thế quái (hay số thế, sẽ nói trong 1 dịp khác) để hy vọng đem được vượng khí tới hướng hầu biến hung thành cát mà thôi.

Sau khi đã biết được 24 sơn (hay hướng) thì còn phải biết chúng thuộc về Nguyên nào, và là dương hay âm, để có thể xoay chuyển phi tinh Thuận hay Nghịch khi lập trạch vận. Nguyên này không phải là “Nguyên” chỉ thời gian như đã nói trong “Tam Nguyên Cửu Vận”, mà là chỉ địa khí của long mạch, hay phương hướng của trái đất mà thôi.

Tam nguyên long bao gồm: Địa nguyên long, Thiên nguyên long, và Nhân nguyên long. Mỗi Nguyên bao gồm 8 sơn (hay 8 hướng), trong đó có 4 sơn dương và 4 sơn âm như sau:

– THIÊN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn :

4 sơn dương: CÀN, KHÔN, CẤN, TỐN.

4 sơn âm: TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU.

– ĐỊA NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:

4 sơn dương: GIÁP, CANH, NHÂM, BÍNH.

4 sơn âm: THÌN, TUẤT, SỬU, MÙI.

– NHÂN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:

4 sơn dương: DẦN, THÂN, TỴ, HỢI.

4 sơn âm: ẤT, TÂN, ĐINH, QUÝ.

Với sự phân định âm hay dương của mỗi hướng như trên, người ta có thể biết được lúc nào phi tinh sẽ đi thuận hoặc đi nghịch khi xoay chuyển chúng theo vòng LƯỢNG THIÊN XÍCH. (điều này sẽ được nói rõ trong phần lập tinh bàn cho trạch vận ở 1 mục khác).

Ngoài ra, nếu nhìn kỹ vào sự phân chia của Tam nguyên Long ta sẽ thấy trong mỗi hướng của Bát quái được chia thành 3 sơn, và bao gồm đủ ba Nguyên: Địa, Thiên và Nhân, theo chiều kim đồng hồ. Thí dụ như hướng BẮC được chia thành 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝ, với NHÂM thuộc Địa nguyên long, TÝ thuộc Thiên nguyên long, và QUÝ thuộc Nhân nguyên long.

Các hướng còn lại cũng đều như thế, nghĩa là Thiên nguyên long ở chính giữa, Địa nguyên long nằm bên phía tay trái, còn Nhân nguyên long thì nằm bên phía tay phải. Từ đó người ta mới phân biệt ra Thiên nguyên long là quẻ Phụ mẫu, Địa nguyên long là Nghịch tử (vì nằm bên tay trái của Thiên nguyên long tức là nghịch chiều xoay chuyển của vạn vật), còn Nhân nguyên long là Thuận tử. Trong 3 nguyên Địa-Thiên-Nhân thì Thiên và Nhân là có thể kiêm được với nhau (vì là giữa phụ mẫu và thuận tử). Còn Địa nguyên long là nghịch tử chỉ có thể đứng 1 mình, không thể kiêm phụ mẫu hay thuận tử. Nếu Địa kiêm Thiên tức là âm dương lẫn lộn (hay âm dương sai thố). Nếu Địa kiêm Nhân thì sẽ bị xuất quái.

Ví dụ: Nhà hướng MÙI 205 độ. Vì hướng MÙI bắt đầu từ 202 độ 5, nên nhà hướng 205 độ cũng vẫn nằm trong hướng MÙI, nhưng kiêm sang phía bên trái 5 độ, tức là kiêm hướng ẤT 5 độ. Vì hướng MÙI là thuộc Địa nguyên long (tức Nghịch tử), chỉ có thể lấy chính hướng (210 độ) chứ không thể kiêm, cho nên trường hợp này là bị phạm xuất quái, chủ tai họa, bần tiện.

Ngược lại, nếu 1 căn nhà có hướng là 185 độ, tức là hướng NGỌ kiêm ĐINH 5 độ. Vì NGỌ là quẻ Phụ mẫu, kiêm sang bên phải tức là kiêm Thuận tử nên nhà như thế vẫn tốt chứ không xấu. Đây là 1 trong những yếu tố căn bản và quan trọng của Huyền không Học, cần phải biết và phân biệt rõ ràng. Có như vậy mới biết được tuy 2 nhà cùng 1 trạch vận, nhưng nhà thì làm ăn khá, mọi người sang trọng, có khí phách, còn nhà thì bình thường, con người cũng chỉ nhỏ mọn, tầm thường mà thôi. Cho nên sự quý, tiện của 1 căn nhà phần lớn là do có biết chọn đúng hướng hoặc biết kiêm hướng hay không mà ra. Những điều này sẽ được nói rõ hơn trong phần Lập hướng và Kiêm hướng.

24 Sơn, 8 Hướng Trên La Bàn

24 Sơn, 8 Hướng trên la bàn

Hậu thiên Bát quái của Văn Vương được chia làm 8 hướng đều nhau, với mỗi hướng đi liền với một số của Cửu tinh: hướng BẮC (số 1), ĐÔNG BẮC (số 8), ĐÔNG (số 3), ĐÔNG NAM (số 4), NAM (số 9), TÂY NAM (số 2), TÂY (số 7) , TÂY BẮC (số 6). Riêng số 5 vì nằm ở chính giữa (trung cung) nên không có phương hướng. Đem áp đặt Hậu thiên Bát quái lên la bàn gồm 360 độ, thì mỗi hướng (hay mỗi số) sẽ chiếm 45 độ trên la bàn.

Vào thời kỳ phôi phai của học thuật Phong thủy (thời nhà Chu), việc phân chia la bàn thành 8 hướng như vậy đã được kể là quá tinh vi và chính xác. Nhưng sau này, khi bộ môn Phong thủy đã có những bước tiến vượt bậc dưới thời Đường – Tống, khoảng cách 45 độ được xem là quá lớn và sai lệch qúa nhiều. Để cho chính xác hơn, người ta lại chia mỗi hướng ra thành 3 sơn đều nhau, mỗi sơn chiếm 15 độ. Như vậy trên la bàn lúc này đã xuất hiện 24 sơn. Người ta lại dùng 12 Địa Chi, 8 Thiên Can (đúng ra là 10, nhưng 2 Can Mậu-Kỷ được quy về trung cung cho Ngũ Hoàng nên chỉ còn 8 Can) và 4 quẻ Càn – Khôn – Cấn – Tốn mà đặt tên cho 24 sơn như sau:

– Hướng BẮC (số 1): Gồm 3 sơn NHÂM-TÝ-QUÝ– Hướng ĐÔNG BẮC (số 8): 3 sơn SỬU-CẤN-DẦN– Hướng ĐÔNG (số 3): 3 sơn GIÁP-MÃO-ẤT– Hướng ĐÔNG NAM (số 4) 3 sơn THÌN-TỐN-TỴ– Hướng NAM (số 9): 3 sơn BÍNH-NGỌ-ĐINH– Hướng TÂY NAM (số 2): 3 sơn MÙI-KHÔN-THÂN– Hướng TÂY (số 7): 3 sơn CANH-DẬU-TÂN– Hướng TÂY BẮC (số 6): 3 sơn TUẤT-CÀN-HỢI

Tất cả 24 sơn trên la bàn đều được xếp theo thứ tự từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ. Chẳng hạn như hướng BẮC có 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝ, sơn NHÂM chiếm 15 độ phía bên trái, sơn TÝ chiếm 15 độ nơi chính giữa hướng BẮC, còn sơn QUÝ thì chiếm 15 độ phía bên phải. Tất cả các sơn khác cũng đều theo thứ tự như thế.

Mỗi sơn được xác định với số độ chính giữa như: sơn NHÂM tại 345 độ; TÝ 360 độ hay 0 độ; QUÝ 15 độ; SỬU 30 độ; CẤN 45 độ; DẦN 60 độ; GIÁP 75 độ; MÃO 90 độ; ẤT 105 độ; THÌN 120 độ; TỐN 135 đô; TỴ 150 độ; BÍNH 165 độ; NGỌ 180 độ; ĐINH 195 độ; MÙI 210 độ; KHÔN 225 độ; THÂN 240 độ; CANH 255 độ; DẬU 270 độ; TÂN 285 độ; TUẤT 300 độ; CÀN 315 độ; HỢI 330 độ;

Phần trên là tọa độ chính giữa của 24 sơn. Từ tọa độ đó người ta có thể tìm ra phạm vi của mỗi sơn chiếm đóng trên la bàn, bằng cách đi ngược sang bên trái, cũng như sang bên phải của tọa độ trung tâm, mỗi bên là 7 độ 5 (vì phạm vi mỗi sơn chỉ có 15 độ). Chẳng hạn như hướng MÙI có tọa độ trung tâm là 210 độ. Nếu đi ngược sang bên trái 7 độ 5 (tức là trừ đi 7 độ 5) thì được 202 độ 5. Sau đó từ tọa độ trung tâm là 210 độ lại đi thuận qua phải 7 độ 5 (tức là cộng thêm 7 độ 5) thì được 217 độ 5. Như vậy phạm vi sơn MÙI sẽ bắt đầu từ 202 độ 5 và chấm dứt tại 217 độ 5 trên la bàn.

Chính Hướng và Kiêm Hướng

Một vấn đề làm cho người mới học Phong thủy khá bối rối là thế nào là Chính Hướng và kiêm Hướng? Thật ra, điều này cũng không khó khăn gì cả, vì khi đo hướng nhà (hay hướng mộ) mà nếu thấy hướng nhà (hay hướng mộ đó) nằm tại tọa độ trung tâm của 1 sơn (bất kể là sơn nào) thì đều được coi là Chính Hướng. Còn nếu không đúng với tọa độ tâm điểm của 1 sơn thì được coi là Kiêm Hướng. Kiêm hướng lại chia ra là kiêm bên phải hoặc kiêm bên trái, rồi kiêm nhiều hay kiêm ít. Nếu kiêm bên phải hoặc kiêm bên trái thì hướng nhà không được xem là thuần khí nữa, vì đã lấn sang phạm vi của sơn bên cạnh (điều này sẽ nói rõ hơn trong phần Tam nguyên long). Nói kiêm phải hay kiêm trái là lấy tọa độ tâm điểm của mỗi sơn làm trung tâm mà tính. Chẳng hạn như sơn MÙI có tọa độ trung tâm là 210 độ. Nếu bây giờ 1 căn nhà có hướng là 215 độ thì nhà đó thuộc hướng MÙI (vì sơn MÙI bắt đầu từ khoảng 202 độ 5 và chấm dứt tại 217 độ 5), nhưng kiêm bên phải 5 độ. Nhưng trong thuật ngữ Phong thủy thì người ta lại không nói kiêm phải hoặc trái, mà lại dùng tên của những hướng được kiêm để gọi nhập chung với hướng của ngôi nhà đó. Như trong trường hợp này là nhà hướng MÙI kiêm phải 5 độ, nhưng vì hướng bên phải của hướng MÙI là hướng KHÔN, nên người ta sẽ nói nhà này “hướng MÙI kiêm KHÔN 5 độ” tức là kiêm sang bên phải 5 độ mà thôi.

Riêng với vấn đề kiêm nhiều hay ít thì 1 hướng nếu chỉ lệch sang bên phải hoặc bên trái khoảng 3 độ so với tọa độ tâm điểm của hướng đó thì được coi là kiêm ít, và vẫn còn giữa được thuần khí của hướng. Còn nếu lệch quá 3 độ so với trung tâm của 1 hướng thì được coi là lệch nhiều, nên khí lúc đó không thuần và coi như bị nhận nhiều tạp khí. Những trường hợp này cần được dùng Thế quái (hay số thế, sẽ nói trong 1 dịp khác) để hy vọng đem được vượng khí tới hướng hầu biến hung thành cát mà thôi.

Sau khi đã biết được 24 sơn (hay hướng) thì còn phải biết chúng thuộc về Nguyên nào, và là dương hay âm, để có thể xoay chuyển phi tinh Thuận hay Nghịch khi lập trạch vận. Nguyên này không phải là “Nguyên” chỉ thời gian như đã nói trong “Tam Nguyên Cửu Vận”, mà là chỉ địa khí của long mạch, hay phương hướng của trái đất mà thôi.

– THIÊN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn :

4 sơn dương: CÀN, KHÔN, CẤN, TỐN.

4 sơn âm: TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU.

– ĐỊA NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:

4 sơn dương: GIÁP, CANH, NHÂM, BÍNH.

4 sơn âm: THÌN, TUẤT, SỬU, MÙI.

– NHÂN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:

4 sơn dương: DẦN, THÂN, TỴ, HỢI.

4 sơn âm: ẤT, TÂN, ĐINH, QUÝ.

Với sự phân định âm hay dương của mỗi hướng như trên, người ta có thể biết được lúc nào phi tinh sẽ đi thuận hoặc đi nghịch khi xoay chuyển chúng theo vòng LƯỢNG THIÊN XÍCH. (điều này sẽ được nói rõ trong phần lập tinh bàn cho trạch vận ở 1 mục khác).

Ngoài ra, nếu nhìn kỹ vào sự phân chia của Tam nguyên Long ta sẽ thấy trong mỗi hướng của Bát quái được chia thành 3 sơn, và bao gồm đủ ba Nguyên: Địa, Thiên và Nhân, theo chiều kim đồng hồ. Thí dụ như hướng BẮC được chia thành 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝ, với NHÂM thuộc Địa nguyên long, TÝ thuộc Thiên nguyên long, và QUÝ thuộc Nhân nguyên long.

Các hướng còn lại cũng đều như thế, nghĩa là Thiên nguyên long ở chính giữa, Địa nguyên long nằm bên phía tay trái, còn Nhân nguyên long thì nằm bên phía tay phải. Từ đó người ta mới phân biệt ra Thiên nguyên long là quẻ Phụ mẫu, Địa nguyên long là Nghịch tử (vì nằm bên tay trái của Thiên nguyên long tức là nghịch chiều xoay chuyển của vạn vật), còn Nhân nguyên long là Thuận tử. Trong 3 nguyên Địa-Thiên-Nhân thì Thiên và Nhân là có thể kiêm được với nhau (vì là giữa phụ mẫu và thuận tử). Còn Địa nguyên long là nghịch tử chỉ có thể đứng 1 mình, không thể kiêm phụ mẫu hay thuận tử. Nếu Địa kiêm Thiên tức là âm dương lẫn lộn (hay âm dương sai thố). Nếu Địa kiêm Nhân thì sẽ bị xuất quái.

Ví dụ: Nhà hướng MÙI 205 độ. Vì hướng MÙI bắt đầu từ 202 độ 5, nên nhà hướng 205 độ cũng vẫn nằm trong hướng MÙI, nhưng kiêm sang phía bên trái 5 độ, tức là kiêm hướng ẤT 5 độ. Vì hướng MÙI là thuộc Địa nguyên long (tức Nghịch tử), chỉ có thể lấy chính hướng (210 độ) chứ không thể kiêm, cho nên trường hợp này là bị phạm xuất quái, chủ tai họa, bần tiện.

Ngược lại, nếu 1 căn nhà có hướng là 185 độ, tức là hướng NGỌ kiêm ĐINH 5 độ. Vì NGỌ là quẻ Phụ mẫu, kiêm sang bên phải tức là kiêm Thuận tử nên nhà như thế vẫn tốt chứ không xấu. Đây là 1 trong những yếu tố căn bản và quan trọng của Huyền không Học, cần phải biết và phân biệt rõ ràng. Có như vậy mới biết được tuy 2 nhà cùng 1 trạch vận, nhưng nhà thì làm ăn khá, mọi người sang trọng, có khí phách, còn nhà thì bình thường, con người cũng chỉ nhỏ mọn, tầm thường mà thôi. Cho nên sự quý, tiện của 1 căn nhà phần lớn là do có biết chọn đúng hướng hoặc biết kiêm hướng hay không mà ra. Những điều này sẽ được nói rõ hơn trong phần Lập hướng và Kiêm hướng.

Cập nhật thông tin chi tiết về 24 Sơn Bàn 72 Hướng Hung Cát Trong Phong Thủy (Phần 1) trên website Globalink.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!