Xu Hướng 2/2023 # Thế Đất “Hậu Sinh Phát Đế” Phát Vương Nhiều Đời Cho Con Cháu Họ Trần # Top 6 View | Globalink.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Thế Đất “Hậu Sinh Phát Đế” Phát Vương Nhiều Đời Cho Con Cháu Họ Trần # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Thế Đất “Hậu Sinh Phát Đế” Phát Vương Nhiều Đời Cho Con Cháu Họ Trần được cập nhật mới nhất trên website Globalink.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thế đất “hậu sinh phát đế” phát vương nhiều đời cho con cháu họ Trần

✅ Phía trước gò ấy có 3 gò lớn là Tam thai, phía sau có 7 gò nhỏ là Thất tinh, xung quanh có đầm nước bao bọc, khi mặt trời soi tới thì mặt đầm sáng như gương phản chiếu, đối mặt với các cù lao nhỏ hình đẹp như những bông sen đang nở, đấy là một trong 27 kiểu đất hậu sinh phát đế”.

        Dân gian vẫn từng nói rằng: trước khi làm quan anh phải biết được mộ nhà anh đặt ở đâu, tổ tiên anh tích đức như thế nào. Ngày nay cũng vậy, câu nói đó dù hiểu theo phương diện huyền bí hay thực tế thì nó vẫn luôn luôn đúng.Tổ tiên có công đức, tích tụ công đức……nuôi dạy con cháu có tốt thì mới có ngày hiển vinh.

    

 

Thái Đường Lăng (Hưng Hà – Thái Bình) là nơi an nghỉ vĩnh hằng của các vị vua đầu triều Trần: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông. Các hoàng hậu sau khi qua đời đều được quy về hợp táng tại các lăng mộ Thọ Lăng, Chiêu Lăng, Dự Lăng, Quy Đức Lăng.

        Vậy nên ở Việt Nam chúng ta, các dòng họ đều răn dạy con cháu với câu đối: “tổ tông công đức thiên niên thịnh – tử hiếu tôn hiền vạn đại vinh”. Lịch sử nhà Trần là một minh chứng cho điều đó.Sự phát tích của nhà Trần  trong lịch sử phong kiến kiến Việt Nam luôn luôn là một đề tài tốn rất nhiều giấy mực của các bậc trí giả. Cũng như các triều đại khác của lịch sử Việt Nam, khi phát tích đều mang những yếu tố liêu trai. Sử sách mà lịch sử ghi lại về nhà Trần cho đến nay vẫn còn nhiều điểm mang tính chất huyền bí, do ảnh hưởng bởi những truyền thuyết dân gian. Do vậy, sự phát tích và phát triển đến cực thịnh, rực rỡ của nha Tran vẫn là một đề tài hấp dẫn mà những nhà nghiên cứu đam mê bí ẩn về phong thủy đang đi tìm lời giải đáp.

Đền thờ các Vua Trần tại Hưng Hà – Thái Bình

 

        Lịch sử phát triển rực rỡ của nhà Trần:         Người đặt nền móng đầu tiên cho sự phát triển rực rỡ của nhà Trần chính là Trần Tự Khánh, người đã có công tập hợp lực lượng, đánh dẹp các xứ quân nổi loạn và hình thành lên thế lực cho họ Trần trong triều đình nhà Lý.Người trực tiếp gây dựng lên cơ nghiệp trăm năm rực sáng cho họ Trần và ảnh hưởng tới cục diện, sức mạnh của nhà nước Đại Việt khi đó lại chính là Thái sư Trần Thủ Độ. Ông là người đã ra sức ép buộc Huệ Tông bỏ ngôi lên làm Thái thượng hoàng, nhường ngôi cho Chiêu Thánh công chúa khi đó mới 7 tuổi, tức là Lý Chiêu Hoàng. Để đoạt hẳn ngôi báu về tay họ Trần, Trần Thủ Độ tìm cách đưa con của anh thứ Trần Thừa là Trần Cảnh, mới 8 tuổi, vào hầu Lý Chiêu Hoàng, rồi dàn xếp để Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng và nhường ngôi để chuyển ngai vàng sang họ Trần vào cuối năm 1225. Thượng hoàng Huệ Tông đi tu, truất làm Huệ Quang đại sư, Trần Cảnh lên ngôi tức Thái Tông hoàng đế của triều Trần. Năm 1226 nhà Trần được thành lập và trải qua 12 đời vua với 175 năm trị vì (tính từ đời vua Trần Thái Tông đến vua Trần Thiếu Đế)

        Ngôi “mộ tổ” họ Trần được chôn cất đúng vào long mạch và kết phát mạnh mẽ nên con cháu  

Hai Vùng Đất Phát Đế Vương Nổi Tiếng Việt Nam

Ở Việt Nam, nói đến đất đế vương thì phải kể tới vùng đất Thanh Hóa và Cao Bằng. Nếu Thanh Hóa được xem là đất “đế vương chung hội” bởi rất nhiều vua chúa trong lịch sử đều phát tích từ vùng đất này; thì Cao Bằng được xem là đất “đế vương dung thân”, có thể giúp vua giữ gìn phúc khí, cũng có thể sinh ra bậc vương giả.

Đất “đế vương chung hội”

Những nhân vật lịch sử kiệt xuất xuất thân ở Thanh Hóa có thể kể đến như: Bà Triệu (huyện Yên Định, Thanh Hóa), Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ (Ái Châu, Thanh Hóa), Lê Đại Hành[1] (Ái Châu, Thanh Hóa), Hồ Quý Ly (Đại Lai, Thanh Hóa), Lê Thái Tổ (làng Chủ Sơn, Thanh Hóa), Hoàng tộc Nguyễn (Hà Trung, Thanh Hóa), Chúa Trịnh Kiểm (huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa)…

Đỉnh Ngàn Nưa

Núi Nưa là dãy núi đi qua 3 huyện Triệu Sơn, Nông Cống, Như Thanh thuộc tỉnh Thanh Hóa. Sách Đại Nam nhất thống chí có chép rằng: “Núi Nưa tên chữ là Na Sơn, mạch núi từ Phủ Thọ Xuân kéo đến chạy dài vài ba mươi dặm, đến địa phận Tổng Cổ Định thì nối vọi lên nhiều ngọn, ngọn cao nhất là núi Nưa.”

Theo tài liệu khoa học, quần thể Núi Nưa có mạch núi bắt nguồn từ dải Trường Sơn, vươn về phía biển theo hướng Tây Bắc – Đông Nam; có hàng ngàn ngọn núi lớn nhỏ trùng điệp phân bổ đều khắp trên diện tích 55 km 2, xung quanh là 99 ngọn núi tựa như voi phục chầu về đỉnh, nên người dân gọi là Ngàn Nưa. Trên đỉnh núi cao nhất Ngàn Nưa, có sơn cao thủy tụ, là nơi linh khí thiêng giữa Trời – Đất hội tụ, giao hòa.

Tại núi Nưa vào năm 248, Bà Triệu cùng hàng ngàn tráng sĩ Cửu Chân mài gươm luyện võ chống lại ách đô hộ của quân Ngô. Núi Nưa chính là căn cứ đầu tiên của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu.

Nhiều ẩn sĩ, danh nhân từ xưa đến nay đều có viết về ngọn núi này, trong dân gian vẫn lưu truyền câu: “Na Sơn nhất phiến, nhất hộ thiên hạ biến!” nghĩa là “một tiếng hô ở núi Nưa chuyển cả thiên hạ!” (Xem bài: Múa giáo đánh hổ dễ, đối mặt vua Bà khó)

Vùng núi Lam Sơn

Vùng núi Lam Sơn được xem là nơi phát tích của triều đại nhà Lê. Trong cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư” có mô tả rằng: Ông tổ ba đời của vua Lê Lợi tên húy là Hối, một hôm đi dạo chơi đến vùng núi Lam Sơn chợt thấy có đàn chim đông đúc đang bay lượn như thể núi Lam Sơn có một lực thu hút vô hình, có sức thu phục nhân tâm nhiều như chim về tổ, bèn nói: “đây hẳn là chỗ đất tốt” và quyết định “dời nhà đến ở đấy”.

Người Việt có câu “đất lành chim đậu”, hình ảnh đàn chim đông đúc bay lượn dấu hiệu vùng đất lành. Sau khi cụ Hối dời nhà về Lam Sơn thì 3 năm sau đã gây dựng được sản nghiệp lớn và làm quận trưởng một phương, trong nhà có cả ngàn gia đinh.

Đến lúc Lê Lợi được sinh ra đã “thiên tư tuấn tú khác thường, thần sắc tinh anh kỳ vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai có nốt ruồi son, tiếng nói như chuông, dáng đi tựa rồng, bước tới như hổ, kẻ thức giả đều biết vua là bậc phi thường” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Lê Lợi được một nhân vật kỳ bí cho biết huyệt đất phát vương ở Chiêu Nghi, điều này được ghi chép lại trong cuốn “Lam Sơn thực lục” như sau:

Khi ấy nhà vua (tức Lê Lợi) sai người nhà cày ruộng ở xứ Phật Hoàng động Chiêu Nghi. Chợt thấy một nhà sư già, mặc áo trắng, từ thôn Đức Tề đi ra, thở dài mà rằng: – Quý hoá thay phiến đất này! Không có ai đáng dặn! Người nhà thấy thế, chạy về thưa rõ với nhà vua, nhà vua liền đuổi theo tìm hỏi chuyện đó. Có người báo rằng: – Sư già đã đi xa rồi. Nhà vua vội đi theo đến trại Quần Đội, huyện Cổ lôi, (tức huyện Lôi Dương ngày nay) thấy một cái thẻ tre, đề chữ rằng: “Thiên đức thụ mệnh. Tuế trung tứ thập. Số chi dĩ định. Tích tai vị cập”. “Đức trời chịu mệnh. Tuổi giữa bốn mươi! Số kia đã định. Chưa tới … tiếc thay!” Nhà vua thấy chữ đề mừng lắm, lại vội vàng đi theo. Khi ấy có rồng vàng che cho nhà vua! Bỗng nhà sư bảo nhà vua rằng: – Tôi từ bên Lào xuống đây, họ Trịnh, tên là sư núi Đá trắng. Hôm thấy ông khí tượng khác thường tất có thể làm nên việc lớn! Nhà vua quỳ xuống thưa rằng: – Mạch đất ở miền đệ tử, tôi sang hèn ra thế nào xin thầy bảo rõ cho? – Xứ Phật hoàng thuộc động Chiêu Nghi, có một khu đất chừng nửa sào, hình như quả quốc ấn. Phía tả có núi Thái Thất, núi Chí Linh (ở miền Lảo Mang); bên trong có đồi đất Bạn Tiên. Lấy Thiên Sơn làm án (ở xã An Khoái). Phía trước có nước Long Sơn, bên trong có nước Long Hồ là chỗ xoáy trôn ốc (ở thôn Như Ứng). Phía hữu nước vòng quanh tay Hổ. Bên ngoài núi xâu chuỗi hạt trai. Con trai sang không thể nói được nhưng con gái phiền có chuyện thất tiết. Tôi sợ con cháu ông về sau, có thế phân cư. Ngôi vua có lúc Trung Hưng. Mệnh trời có thể biết vậy. Nếu thầy giỏi biết láng lại, thì trung hưng được năm trăm năm. Nhà sư nói rồi, nhà vua liền đem di cốt đức Hoàng khảo táng vào chỗ ấy. Tới giờ Dần, về đến thôn Hạ Dao Xá nhà sư bèn hóa bay lên trời! Nhân lập chỗ ấy làm điện Du Tiên. Còn động Chiêu Nghi thì làm am nhỏ (tức là nơi một Phật hoàng). Đó là gốc của sự phát tích vậy.

Về sự việc này Lê Quý Đôn có viết ngắn gọn trong “Đại Việt thông sử” rằng: “Khi vua làm phụ đạo ở Khả Lam, được hồn sư ông mặc áo trắng hiển hiện chỉ cho ngôi huyệt phát đế vương ở động Chiêu Nghi”.

Lê Lợi đưa thi hài của cha chôn vào đất này. Sau này khi Lê Lợi khởi binh chống lại quân Minh, nhưng bị một người chỉ điểm cho quân Minh biết ngôi mộ này, quân Minh sai người khai quật lên nhằm ép Lê Lợi đầu hàng.

Lê Lợi sai 14 thuộc hạ thân tín là Trịnh Khả, Bùi Bị, Trương Lôi, Lê Nanh, Võ Uy, Bùi Quốc Hưng, Doãn Nỗ, Lê Liễu, Lê Nhữ Lãm, Lê Khả Lãng, Lê Xa Lôi, Trịnh Võ, Lưu Trung và Trần Dĩ đi đến doanh trại của giặc lấy lại hài cốt của cha mình. Những người này đội cỏ bơi xuôi theo dòng nước, từ thượng lưu xuống, nhân lúc giặc Minh sơ hở đã lấy trộm lại được hài cốt. Lê Lợi bèn chôn lại như cũ.

Sau 10 năm nổi dậy chống quân Minh, năm 1428 Lê Lợi lên ngôi vua lập ra nhà hậu Lê. Kéo dài đến năm 1789. Sau này dù đến đời chúa nào, hay các cuộc khởi nghĩa nổ ra thì hầu hết đều mang danh “phò Lê” để danh chính ngôn thuận mà lấy lòng thiên hạ.

Hàm Rồng

Nằm ở phía nam sông Mã , Dãy núi Đông Sơn – Hàm Rồng bắt nguồn từ làng Dương Xá huyện Thiệu Hóa chạy men theo sông Mã uốn lượn thành 99 ngọn núi hình rồng. Phần cuối nhô lên một ngọn tựa như đầu rồng nên gọi là Hàm Rồng, ở đó có động Long Quang (mắt rồng), núi sát bờ sông, trên bờ có mỏm đá nhô ra như hình mũi rồng, cho nên gọi là Long tị.

Sách “Đại Nam nhất thống chí” ghi chép địa thế nơi đây là: “núi này cao và đẹp trông ra sông Định Minh, lên cao trông xa thấy nước trời một màu sắc thật là giai cảnh”.

Từ đuôi Rồng đi lên, ngọn Ngũ Hoa Phong hình năm bông sen chụm chung một gốc cắm xuống đầm lầy. Ngọn Phù Thi Sơn trông giống một người phụ nữ đang nằm ngủ đầu gối vào thân rồng, núi mẹ, núi con tròn như quả trứng. Ngọn Tả Ao trông giống người đàn ông đang nằm vắt chân chữ ngũ, đầu quay về hướng Đông. Ở sát cạnh ngọn con Mèo đang trong tư thế rình mồi, núi Cánh Tiên có 3 ngọn vút lên cao tạo thành mỏm Ba Hiệu, rồi núi Con Cá, Con Phượng, núi Đồng Thông, núi Con Voi…

Tương truyền khi Cao Biền đi qua Hàm Rồng thấy đất nơi đây rất quý, có thể phát vương, liền đưa hài cốt của cha chôn vào huyệt Hàm Rồng mong sẽ phát vương ở phương nam. Thế nhưng xương cốt cứ bị huyệt núi đùn ra, không nhận, dù đã cố đưa vào nhưng vẫn bị đùn ra như thế.

Cao Biền biết đây là long mạch rất mạnh nên càng quý, vì thế mà quyết làm đến cùng, nên tán xương nhỏ để tung vào sườn núi. Nhưng vừa tung lên thì có muôn vàn con chim nhỏ cùng bay lên vỗ cánh vù vù làm xương cốt bay tứ tán. Cao Biền chỉ còn biết than linh khí nước Nam quá mạnh và linh thiêng, không thể cưỡng cầu.

Đất “đế vương dung thân”

Nếu Thanh Hóa được xem là vùng đất phát tích của vua chúa, thì Cao Bằng được xem là nơi đế vương dung thân, ẩn náu.

Thời nhà Mạc, khi vận nước rối bời, vua Mạc Mậu Hợp đến hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm về thế cuộc, Trạnh Trình đã đáp rằng: “Ngày sau nước có việc, đất Cao Bằng tuy nhỏ, cũng giữ được phúc đến vài đời”.

7 năm sau, vua Mạc bị quân Trịnh đánh bật khỏi Thăng Long. Vua nhớ lời dặn của cụ Trạng, liền về đất Cao Bằng, quả nhiên giữ thêm được 96 năm nữa.

Từ đó Cao Bằng được xem là đất dung thân, ẩn náu của các bậc đế vương.

Xưa kia khi Cao Biền được lệnh trấn yểm các vùng đất quý của nước Việt, đã xây thành Đại La – tiền thân của thành Thăng Long ở Hà Nội sau này, và thành Nà Lữ ở Cao Bằng. Về sau người Việt đã tìm cách hóa giải cách trấn yểm của Cao Biền. (Xem bài: Chuyện thiền sư Việt phá giải thuật phong thủy của Cao Biền)

Đến nay di tích thành Nà Lữ vẫn còn ở làng Nà Lữ, xã Hoàng Tung, huyện Hòa An. Khi nhà Mạc chạy về Cao Bằng đã chiếm Nà Lữ và xây thành đá trên núi để phòng ngự.

Năm 1052 thủ lĩnh người Tráng (người Tày, Nùng) ở Cao Bằng là Nùng Trí Cao tự xưng là Nhân Huệ Hoàng Đế, đặt quốc hiệu là Đại Nam và đưa quân sang tấn công bên đất Tống.

Mặc dù Nùng Trí Cao chỉ được xem là đế vương của người dân tộc Tày – Nùng, nổi lên đòi tự trị giữa Đại Tống và Đại Cồ Việt thời nhà Lý, nhưng dẫu sao đi nữa, ông cũng là một minh chứng cho sự linh thiêng của vùng đất Cao Bằng. (Xem bài: Đại Cồ Việt vuột mất cơ hội tiến sang đánh chiếm Trung Quốc vào phút cuối như thế nào)

Đến nay, Cao Bằng được xem là nơi “tụ khí tàng phong” rất tốt đẹp với nhiều danh lam thắng như thác Bản Giốc, thác Nặm Trá, núi Mắt Thần, tạo ra nhiều sinh khí cho vùng đất này.

Chú thích:

Vì Đâu Thanh Hóa Phát Đế Vương 4 Vua 2 Chúa?

Những bí ẩn phong thủy của vùng đất đế vương Thanh Hóa lý giải nguyên nhân vì sao khiến Thanh Hóa phát 4 vua 2 chúa.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói

Thanh Hóa xưa nay nổi tiếng là vùng đất vua chúa với bốn dòng vua, hai dòng chúa hay còn gọi là vùng đất 4 vua 2 chúa. Vì đâu mà mảnh đất nghèo này lại trở thành “đất phát đế vương”? Phải chăng bởi phong thủy Thanh Hóa ẩn chứa nhiều điều kì bí.

Dãy núi Đông Sơn – Hàm Rồng bắt nguồn từ làng Dương Xá men theo sông Mã uốn lượn thành 99 ngọn núi đất, núi đá nhấp nhô như một bức tường thành hình con rồng đồ sộ. Phần cuối nhô lên một ngọn tựa hình đầu rồng nên gọi là Hàm Rồng (tên chữ Long Hạm). Ở đó có động Long Quang (mắt rồng). Thông ra phía sau động có một hang nhỏ là hang mắt Rồng. Trên vòm hang mắt Rồng có một lỗ ăn thông lên trên. Mỗi khi mưa, nước màu gạch cua chảy xuống, người xưa bảo đó là nước mắt rồng. Bên phải vòm hang có một mũi đá nhô ra gọi là đỉnh Long Tỵ (mũi rồng). Mạch đá ngoằn ngoèo chạy sát chân núi rồng rồi ăn ngầm xuống dòng sông Mã tới ngọn Châu Phong là bến Hàm Rồng.Non nước Hàm Rồng dưới bàn tay xếp đặt của tạo hóa, đã tạo nên những hình thù kỳ dị, độc đáo và đa dạng, có người ví như một “Hạ Long trên bộ”. Từ đuôi Rồng đi lên, ngọn Ngũ Hoa Phong hình năm bông sen chụm chung một gốc cắm xuống đầm lầy. Ngọn Phù Thi Sơn trông giống một người phụ nữ đang nằm ngủ đầu gối vào thân rồng, núi mẹ, núi con tròn như quả trứng. Ngọn Tả Ao trông giống người đàn ông đang nằm vắt chân chữ ngũ, đầu quay về hướng Đông. Ở sát cạnh ngọn con Mèo đang trong tư thế rình mồi, núi Cánh Tiên có 3 ngọn vút lên cao tạo thành mỏm Ba Hiệu, rồi núi Con Cá, Con Phượng, núi Đồng Thông, núi con Voi. Hung địa theo thuật ngữ phong thủy là đất “Chu Tước bi khốc” (chim cất tiếng kêu sầu), hoặc đất “Bạch Hổ hàm thi” (con hổ đang ngậm xác chết trong miệng), hoặc “Xương Long vô túc” (rồng không có chân, rồng bị tật nguyền).Truyền thuyết cho rằng khi cưỡi diều giấy bay qua vùng núi Hàm Rồng, nhìn thấy huyệt Hàm Rồng, Cao Biền nói rằng địa thế này là Sau đó, Cao Biền đã âm thầm quay trở lại, mang theo hài cốt cha y để táng vào huyệt Hàm Rồng (mả táng hàm rồng) mong sau này có thể phát đế vương. Song dù nhiều lần Cao Biền cho mả cha vào, bộ xương cốt cứ bị huyệt núi đùn ra, không nhận. Biết rằng đây là long mạch cực mạnh, cực quý nên y rắp tâm làm đến cùng. Biền bèn tán nhỏ xương rồi tung lên thì có muôn con chim nhỏ cùng bay đến, vỗ cánh rào rào làm xương cốt bám trên vách đá bay tứ tán hết. Biền than rằng linh khí nước Nam quá mạnh, không thể cưỡng cầu.Phải chăng vì

Núi Hàm Rồng – Thanh Hóa

hung địa “Xương Long vô túc”, không phải rồng không chân mà là con rồng què chân, không phải đất cực quý rồi bỏ đi. Nhưng thực tế không phải vậy.

phong thủy Hàm Rồng quá tốt mà Thanh Hóa đã phát tích 4 triều đại trong lịch sử Việt Nam: Tiền Lê, Hậu Lê, nhà Hồ, nhà Nguyễn và hai dòng chúa: chúa Trịnh, chúa Nguyễn.ST

Nhiều đời vua Trung Hoa thường cử các nhà phong thủy cao tay sang do thám khắp nước Nam, trấn yểm long mạch để phá vận khí của nước ta. Khi đến Thanh Hóa, mảnh đất nghèo khó nhưng lắm người tài, các nhà phong thủy đã nhận ra vị trí đắc địa nơi đây.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Minh Tuyết (XemTuong.net)

Phong Thủy Cho Nhà Thờ Họ Giúp Rước Tài Lộc Cho Con Cháu Dòng Họ

Phong thủy cho nhà thờ họ sao cho tổ tiên chúng ta được hưởng an lạc, con cháu được hưởng phúc lộc. Nhà thờ là nơi thờ tự của một dòng họ, một gia tộc chính vì vậy việc xây dựng nhà thờ họ theo phong thủy là rất quan trọng vì có tầm ảnh hưởng tới cả một dòng họ. Bài viết này chúng tôi xin chia sẻ tới các bạn thuyết phong thủy trong nhà thờ họ bạn có thể tham khảo để xây nhà thờ được như ý.

Thờ phụng tổ tiên là bổn phận và hiếu đạo của con cháu dành tới tổ tiên của một dòng họ, không được xem thường và không được qua loa sơ sài việc thờ phụng tổ tiên, phong thủy cho nhà thờ họ còn quan trọng hơn việc luận thần vị, bài vị, bởi nó ảnh hưởng tới hưng suy của cả gia tộc, dòng họ chứ không phải riêng nhà nào.

Phong thủy cho nhà thờ họ

Phong thủy nhà thờ họ, nếu xét về nguyên lý thì không khác nhà ở, nhưng có điều nhà thờ và từ đường lấy ải tinh, sơn hướng long làm quan trọng bậc nhất, nên chọn “Quan quý, văn tú chi khí” được như vậy thì con cháu có người tài giỏi xuất sắc, không chọn “ngoan độn chi khí”.

Thế đất xây nhà thờ họ chuẩn phong thủy

Địa thế đất xây nhà thờ họ cần quan tâm đến long mạch ( huyệt tốt, huyệt xấu).

Phía sau nhà thờ họ có núi, trước mặt có hồ

Nền đất phía sau nhà thờ họ phải cao hơn nền đất phía trước

Nền đất bên trái cao hơn nền đất bên phải

Xem gió thổi tới từ phương nào, có bị nắn hướng gió do địa hình và công trình hiện trạng hay không.

Chọn hướng xây nhà thờ họ chuẩn phong thủy

Hướng xây nhà thờ họ chuẩn phong thủy thường là hướng Nam theo đạo Phật thì đây là hướng gắn với điều thiện và hạnh phúc, theo Nho giáo thì đây là hướng của thánh nhân.

Tổ tiên của chúng ta được coi như những thánh nhân luôn theo dõi và phù hộ độ trì cho con cháu nên nhà ở cũng thường quay hướng Nam. Nếu như nhà thờ họ quay hướng Nam nhưng lại ở thế đất xấu thì cũng có thể quay hướng khác. Thế đất cũng là một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong phong thủy nhà thờ họ.

Hình thể nhà và kích thước nhà thờ họ

Kiến trúc hình thể nhà thờ họ thường là hình chữ “nhất, nhị, đinh, công, quốc”. Các công trình nhà thờ họ gia đình thường làm theo hình chữ đinh, các công trình nhà thờ, đình chùa miếu mạo cấp làng xã, phường thì làm theo chữ “công”. Công trình cấp quốc gia sẽ được làm theo hình chữ “Quốc” ví dụ điển hình chính là Quốc Tử Giám của đất nước chúng ta.

Đặc biệt trong thiết kế kiến trúc nhà thờ họ chuẩn phong thủy , thì việc chú trọng đến từng chi tiết kích thước cột kèo, cửa bức bàn, mái lá đầu đao … phải được chuẩn kích thước lỗ ban.

Nhà thờ họ thông thường có kết cấu như nhà 3 gian hoặc nhà 5 gian truyền thống. Phần này mình xin chia sẻ tới các bạn cách bài trí nội thất hợp phong thủy cho nhà thờ họ 3 gian.

Bàn thờ tổ tiên được làm 2 cấp có thể là 3 cấp.

Cấp 1 ở ngoài thông thường là bàn thờ ô sa, án gian thờ hoặc sập thờ

Cấp 2 thông thường là 1 bàn án hành hoặc 1 chiếc kệ đặt trên bàn thờ chính dùng để đặt ngai thờ và bài vị.

Bàn thờ án hành thông thường cao 1m47. Bàn thờ này được đặt ở trong cùng gian thờ chính và cao nhất dùng để đặt ngai thờ hoặc khám thờ ở chính giữa.

phía trước bàn thờ án hành là bàn thờ ô sa thông thường cao 1m27. Bàn thờ này đặt ở gian thờ chính bàn thờ này được bài trí bộ đồ thờ tam sự, ngũ sự, mâm bồng, ống hương, đài nến, bát hương, đỉnh đồng… (Thông thường trong các nhà thờ họ, nhà thờ chi đều dùng bàn thờ ô sa hoặc là 1 chiếc sập thờ)

Tại gian thờ chính không thể thiếu bộ hoành phi câu đối – cửa võng. Hoành phi thường có kích thước dài 1m97 rộng 67cm. Đôi câu đối và cửa võng có kích thước tùy vào diện tích từng gian thờ.

Phía trước bàn thờ chính quý khách cũng có thể đặt thêm đôi hạc thờ. Hạc Thờ là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao. đôi khi ta bắt gặp hạc thờ ngậm ngọc minh châu biểu trưng cho sang quý, hoặc khi ngậm hoa sen thì biểu trưng cho giác ngộ.

Hai gian thờ bên tả và hữu nhà thờ họ thông thường sẽ lập một thờ bà cô, ông mãnh và bàn thờ cho nhà chi trưởng hoặc bàn thờ bà mẹ việt nam anh hùng.

Bàn thờ án gian đặt ở bên tả bên hữu nhà thờ họ. Bàn thờ này có kích thước cao 1m07 (thấp hơn bàn thờ chính).Bàn thờ án gian được bài trí đơn giản hơn chỉ có bộ tam sơn, đài đẩu, đài nến, ống hương, bát hương…

Cập nhật thông tin chi tiết về Thế Đất “Hậu Sinh Phát Đế” Phát Vương Nhiều Đời Cho Con Cháu Họ Trần trên website Globalink.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!