Chuyện Địa Lý Phong Thủy Cây Thước Lỗ Ban

--- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Các Sách Nghiên Cứu Phong Thủy Địa Lý
  • Chọn Hướng Nhà Phù Hợp Với Gia Chủ Tuổi Tỵ
  • Tuổi Tỵ Hợp Với Màu Gì Và Kỵ Màu Sắc Nào Nhất?
  • Giải Mã Sự Huyền Bí Của Nghề Địa Lý Phong Thủy
  • Cách Đặt Tên Cho Con Trai, Con Gái Theo Phong Thủy
  • Ngày đăng: 16/08/2013, 10:45

    Lịch Sách Xuân Ất Mẹo 1975, Chiêm Tinh Gia Huỳnh Liên có viết về cây Thước Lỗ Ban và dạy cách sử dụng. Theo Thầy thì cây Thước có độ dài nhứt định là 5 tấc 3 chia cho 8 cung lớn. Mỗi cung lớn 6,5 cm lại chia thành 5 cung nhỏ, mỗi cung nhỏ dài đúng 1 phân. Thầy dặn dò kỷ là nếu quý bạn đọc đã có nhà cửa xây cất xong lấy thước đo thấy xấu thì sửa lại. Bằng như chưa cất nhà muốn đo cửa tốt thì lựa cung tốt mà làm khuôn cửa đúng ni tấc thì được mỷ mãn hơn. Khi đo bắt đầu đặt cây thước vào mí của mép cửa bên trái rồi đo lần sang mép cửa bên mặt. Luôn luôn phải đặt cung số 1 tức cung Quý Nhơn nằm phía tay trái, rồi đo lần qua tới chổ nào thì coi lời giải mà biết tốt hay xấu, đó là cách đo cửa nhà đã xây rồi. Nếu chưa xây cửa, thì quý bạn đo tới chổ cung nào tốt và hạp nhất thì dừng lại và ấn định cửa tới nơi đó sẽ xây. Chuyện Địa Phong Thủy: Cây Thước Lỗ Ban Quảng Đức Lịch Sách Xuân Ất Mẹo 1975, Chiêm Tinh Gia Huỳnh Liên có viết về cây Thước Lỗ Ban và dạy cách sử dụng. Theo Thầy thì cây Thước có độ dài nhứt định là 5 tấc 3 chia cho 8 cung lớn. Mỗi cung lớn 6,5 cm lại chia thành 5 cung nhỏ, mỗi cung nhỏ dài đúng 1 phân. Thầy dặn dò kỷ là nếu quý bạn đọc đã có nhà cửa xây cất xong lấy thước đo thấy xấu thì sửa lại. Bằng như chưa cất nhà muốn đo cửa tốt thì lựa cung tốt mà làm khuôn cửa đúng ni tấc thì được mỷ mãn hơn. Khi đo bắt đầu đặt cây thước vào mí của mép cửa bên trái rồi đo lần sang mép cửa bên mặt. Luôn luôn phải đặt cung số 1 tức cung Quý Nhơn nằm phía tay trái, rồi đo lần qua tới chổ nào thì coi lời giải mà biết tốt hay xấu, đó là cách đo cửa nhà đã xây rồi. Nếu chưa xây cửa, thì quý bạn đo tới chổ cung nào tốt và hạp nhất thì dừng lại và ấn định cửa tới nơi đó sẽ xây. Quý bạn đọc nào lỡ cửa xấu, không đúng với thước Lỗ Ban nên tìm tới Thầy để Thầy chỉ dẩn cho cách cúng quảy sửa chữa lại để gia đình làm ăn phát đạt. Mấy năm trước đó có nhiều gia đình thỉnh Thầy đến đo cửa đo nhà, ít lâu sau quả làm ăn phát đạt thật. Danh của Thầy nổi như cồn, khách hàng xếp lớp. Có người cho rằng Thầy có Bùa thiêng, cũng có người cho rằng Thầy nhờ có cái Thước Lỗ Ban Bát Trạch. Biết được Thầy có chỉ vẽ cách làm Thước Lỗ Ban thì cuốn Lịch Sách Xuân Ất Mão được rất nhiều gia đình mua về làm tài liệu tham khảo và cũng đã có rất nhiều ngườiờ theo đúng hướng dẫn cuả Thầy mà làm Thước Lỗ Ban. Không hiểu tại Thầy dấu nghề hay do ngẫu nhiên trùng hợp mà không ít gia đình sau khi có cái thước Lỗ Ban trong tay là ngay mùa Xuân năm đó phải bỏ nhà cao bay xa chạy ra nước ngoài, một số khác vào trại tập trung cải tạo mút mùa, số còn lại thì cũng phải bỏ nhà bỏ cửa để đi kinh tế mới. Về sau biết được hoàn cảnh của Thầy cũng bi đát như khách sau ngày 30 tháng 4, cho nên không còn dám nghĩ là Thầy dấu nghề, mà cho rằng đó là do ngẫu nhiên trùng hợp mà thôi. Thế nhưng khi đem 5 tấc 3 chia cho 8, số thành là 6 phân 5 ly và đem 6 phân 5 ly chia cho 5, số thành là 1 đúng như hướng dẫn của Thầy thì quả thực sai số quá lớn. Cung này cách Cung kia cách nhau chỉ bằng sợi tóc mà sai số lớn như thế thì cái Thước Thầy hướng dẫn làm sao mà linh thiêng cho đặng? Cho rằng lỗi tại nhà in, cây thước phải dài 5 tấc 2 mới đúng. Thì cứ coi như là 5 tấc 2, nhưng lấy độ dài này chia cho 8 rồi lại chia cho 5, số thành đúng 1 phân, thì cũng lại vẫn còn sai! Ngay từ đời nhà Chu ( 257 năm trước Tây Lịch) cùng thời với triều đại Thục An Dương Vương nước Việt, con người đã biết dùng Chỉ và Phân theo hệ thống Bát Phân để làm đơn vị đo chiều dài. Một Chỉ dài 0,408 mét, có 8 Phân thì một Phân là 0,051 mét. Về sau từ con số đơn vị của Phân là 0,051 nhân cho 10 theo hệ thống Thập Phân thành con số 0,51. Cái thước dài 0,51m hay 51 cm lâu ngày trở thành cái thước Lỗ Ban đồng hóa với tà thuật của các Thầy Bùa, Thầy Pháp. Mãi cho đến hơn 2000 năm sau, các nhà Thông Thái Sinh Cơ Học mới giật mình bái phục khi tìm ra được Tần số của ngoại âm là 4,9 từ đó suy ra đơn vị Thời Gian là 1 sec / 4,9 = 0,20408. Biết được đơn vị Thời Gian, các nhà Toán Học tính ra được Gia Tốc Trọng Lực ở mặt địa cầu là 40,8 bằng cách lấy 980 nhân với bình phương của đơn vị thời gian: 0,20408. Con số 0,408 chính là đơn vị Chỉ của nền Văn minh Thá cũng chính là Gia Tốc Trọng Lực ở mặt địa cầu tương đương với 2 lần trị số của đơn vị thời gian. Như vậy, cái thước mà người đời nay cho rằng đó là cái thước Lỗ Ban huyền diệu, mang nhiều sắc thái bùa phép, người đời xưa sử dụng để đo đạt có độ dài là 51 cm, phát xuất từ cơ sở tính toán khoa học của các nhà Khoa Học Thái Cổ. Mê tín dị đoan hay bác học thì lại tùy vào thái độ và trình độ của người sử dụng. Người mê tín thì cho rằng cái thước chính là chiếc gậy Thần Linh hiễn. là vì ít ra, sau khi đo đạt sửa chữa theo đúng hướng dẫn thì gia chủ có nhiều an tâm, hy vọng nhiều hơn, bớt được căng thẳng, giãm được ưu tư thì có thể né tránh được nhiều tai biến hậu quả có thể chết người. Người bác học thì cho rằng cái thước chỉ là phương tiện để đo đạt chính xác mà thôi. Theo thuyết về năng lực bá động thì các loài sinh vật luôn luôn chịu ảnh hưỡng của các làn sóng từ cấp thấp nhất là ngoại âm đến cấp cao nhất là siêu âm đặc biệt là làn sóng ngoại âm phát ra từ lòng đất là nguồn năng lực chi phối đời sống con người qua cơ sở vật chất là nhà cửa của họ. Theo tác giả tập Thái Cổ Khoa Học Toàn Thư – Phần Dương Cơ Học thì nhà cửa luôn luôn được xây dựng trên một nền cứng chắc và đủ rộng để chịu được toàn bộ trọng lượng của cái nhà. Sự liên kết của các nền nhà thành một khối chung sẽ tạo thành một tảng. Hỉnh thức thông thường của tảng là một lớp nền mỏng trải dài trên một vùng đất xốp, mềm, có thể so sánh với một thanh gổ trên mặt nước. Lòng đất luôn luôn phát ra làn sóng ngoại âm là hình thức nhỏ của địa chấn, cho nên tảng phải chịu ảnh hưởng và trở nên một tảng rung động. Trong sự rung động này có sự cộng hưỡng. Sự truyền làn sóng và sự phản hồi làn sóng tạo nên một hệ thống sóng đứng mà hai đầu tảng là hai đầu tự do tạo thành hai bụng của thoi sóng đứng. Ở chính giữa gọi là Nút không rung động giống y như hình ảnh của thanh gổ dài nhấp nhô hai đầu. Ngoại âm của đất có nhiều làn sóng tần số khác nhau và mức độ cộng hưỡng tùy sẽ thuộc vào độ dài, độ dày và độ rắn chắc của tảng, nhưng thường thì độ dài quan trọng hơn. Tảng dài thì có nhiều Nút và nhiều Bụng là vì một tảng dài rung động thì sẽ tạo xen kẻ thành nhiều Bụng và Nút. Mỗi vị trí này được gọi là Tọa Vị. Theo như tác giả tập Thái Cổ Khoa Học Toàn Thư , nếu tọa vị là Bụng thì gọi là Tọa Vị Dương là nơi có sự rung chuyển cao độ. Nếu Tọa Vị là một Nút thì gọi là Tọa Vị Aạm là nơi sự rung động hầu như không có. Cây thước Lỗ Ban 51 cm được chia thành 8 cung bằng nhau. Mỗi cung lại chia thành 5 cung nhỏ. 8 cũng có thể là con số của Bát Quái và cũng là thứ tự của hàng đơn vị từ 1 đến 8 thuộc hệ thống Bát Phân . 5 cũng có thể là Ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hoả, Thổ. – Cung đầu tiên là Quý Nhơn Cung hành Mộc là cung Tốt . – Cung thứ 2 là Hiểm Họa Cung hành Thổ là cung Xấu. – Cung thứ 3 là Thiên Tai Cung hành Thổ là cung Xấu. – Cung thứ 4 là Thiên Tài Cung hành Thủy là cung Tốt. – Cung thứ 5 là Nhơn Lộc Cung hành Kim là cung Tốt. – Cung thứ 6 là Cô Độc Cung hành Hỏa là cung Xấu. – Cung thứ 7 là Thiên Tặc Cung hành Hỏa (Kim?) là cung Xấu. – Cung thứ 8 là Tể Tướng Cung hành Thổ là cung Tốt. Riêng cung Thứ 7 có sách cho rằng hành Hỏa (Thất Tai Hỏa cục), nhưng cũng có sách thì cho rằng hành Kim (Thất Tai Kim cục). Xem kỷ lại thì cung này cũng là cung cư ngụ của sao Phá Quân. Trong Tử Vi sao Phá Quân là Bắc Đẩu Tinh hành Thủy là Hung và Hao tinh chủ tán, nhưng trong Bát Biến Du Niên của phép địa Dương Trạch thì khẳng định Phá Quân hành Kim là chốn cư của Tuyệt Mạng cũng vốn hành Kim. Khoa Địa cho rằng Sao Phá Quân nguyên là hành Kim mà cái Thước Lỗ Ban chỉ dùng cho Khoa Địa cho nên có thể khẳng định được Thất Tai Kim cục có hơn là Thất Tai Hỏa cục. Theo hệ thống Bát Phân từ 1 cho đến 8 là số cuối của hàng đơn vị thì Cung thứ nhất và cung thứ 8 chắc chắn phải là 2 Bụng tức là 2 tọa vị Dương. Hai cung ở giữa là cung thứ 4 và thứ 5 là hai cung Tốt cho nên cung 4 và 5 cũng phải là 2 Bụng tức cũng là 2 tọa vị Dương. Còn lại là Hai Nút sẽ ở tại giữa cung 2 – 3 và giữa cung 6 – 7 vị chi tất cả là 4 Tọa vị Âm. Sự phân chia 1 thành 2, 2 thành 4, 4 thành 8 chắc chắn bắt nguồn từ thuyết Aạm Dương Ngũ Hành mấu chốt của Thái Cực sinh Lưỡng Nghi- Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng – Tứ tượng sinh Bát Quái. . . Như vậy, cây thước Lỗ Ban là Khoa Học hay Mê Tín, Dị Đoan?, Pabongka Rinpoche tại trang 169 Trong tập Giải Thoát trong Lòng Tay Kim Cang Xuất Bản năm 1995 có dạy: Kẻ ngu biết mình ngu, đích thị là hiền trí. Ngu tự cho mình trí, mới thật là chí ngu. Thích Nữ Trí Hãi đã dịch như thế! (Courtesy of Tin Việt News) . Chuyện Địa Lý Phong Thủy: Cây Thước Lỗ Ban Quảng Đức Lịch Sách Xuân Ất Mẹo 1975, Chiêm Tinh Gia Huỳnh Liên có viết về cây Thước Lỗ Ban và dạy. Khoa Địa Lý cho rằng Sao Phá Quân nguyên là hành Kim mà cái Thước Lỗ Ban chỉ dùng cho Khoa Địa Lý cho nên có thể khẳng định được Thất Tai Kim cục có lý hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Chuyện Địa Lý Phong Thủy: Cây Thước Lỗ Ban Pptx
  • Bảo Ngọc Thư (Phần 1)
  • Bảo Ngọc Thư (Địa Lý Phong Thủy)
  • Phật Giáo Và Địa Lý Phong Thủy
  • Bản Chất Khoa Học Của Ngành Địa Lý Phong Thủy Học Đông Phương
  • Tài Liệu Chuyện Địa Lý Phong Thủy: Cây Thước Lỗ Ban Pptx

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyện Địa Lý Phong Thủy Cây Thước Lỗ Ban
  • Tổng Hợp Các Sách Nghiên Cứu Phong Thủy Địa Lý
  • Chọn Hướng Nhà Phù Hợp Với Gia Chủ Tuổi Tỵ
  • Tuổi Tỵ Hợp Với Màu Gì Và Kỵ Màu Sắc Nào Nhất?
  • Giải Mã Sự Huyền Bí Của Nghề Địa Lý Phong Thủy
  • Ngày đăng: 11/12/2013, 16:16

    Chuyện : Cây Thước Lỗ Ban Quảng Đức Lịch Sách Xuân Ất Mẹo 1975, Chiêm Tinh Gia Huỳnh Liên có viết về cây Thước Lỗ Ban và dạy cách sử dụng. Theo Thầy thì cây Thước có độ dài nhứt định là 5 tấc 3 chia cho 8 cung lớn. Mỗi cung lớn 6,5 cm lại chia thành 5 cung nhỏ, mỗi cung nhỏ dài đúng 1 phân. Thầy dặn dò kỷ là nếu quý bạn đọc đã có nhà cửa xây cất xong lấy thước đo thấy xấu thì sửa lại. Bằng như chưa cất nhà muốn đo cửa tốt thì lựa cung tốt mà làm khuôn cửa đúng ni tấc thì được mỷ mãn hơn. Khi đo bắt đầu đặt cây thước vào mí của mép cửa bên trái rồi đo lần sang mép cửa bên mặt. Luôn luôn phải đặt cung số 1 tức cung Quý Nhơn nằm phía tay trái, rồi đo lần qua tới chổ nào thì coi lời giải mà biết tốt hay xấu, đó là cách đo cửa nhà đã xây rồi. Nếu chưa xây cửa, thì quý bạn đo tới chổ cung nào tốt và hạp nhất thì dừng lại và ấn định cửa tới nơi đó sẽ xây. Quý bạn đọc nào lỡ cửa xấu, không đúng với thước Lỗ Ban nên tìm tới Thầy để Thầy chỉ dẩn cho cách cúng quảy sửa chữa lại để gia đình làm ăn phát đạt. Mấy năm trước đó có nhiều gia đình thỉnh Thầy đến đo cửa đo nhà, ít lâu sau quả làm ăn phát đạt thật. Danh của Thầy nổi như cồn, khách hàng xếp lớp. Có người cho rằng Thầy có Bùa thiêng, cũng có người cho rằng Thầy nhờ có cái Thước Lỗ Ban Bát Trạch. Biết được Thầy có chỉ vẽ cách làm Thước Lỗ Ban thì cuốn Lịch Sách Xuân Ất Mão được rất nhiều gia đình mua về làm tài liệu tham khảo và cũng đã có rất nhiều ngườiờ theo đúng hướng dẫn cuả Thầy mà làm Thước Lỗ Ban. Không hiểu tại Thầy dấu nghề hay do ngẫu nhiên trùng hợp mà không ít gia đình sau khi có cái thước Lỗ Ban trong tay là ngay mùa Xuân năm đó phải bỏ nhà cao bay xa chạy ra nước ngoài, một số khác vào trại tập trung cải tạo mút mùa, số còn lại thì cũng phải bỏ nhà bỏ cửa để đi kinh tế mới. Về sau biết được hoàn cảnh của Thầy cũng bi đát như khách sau ngày 30 tháng 4, cho nên không còn dám nghĩ là Thầy dấu nghề, mà cho rằng đó là do ngẫu nhiên trùng hợp mà thôi. Thế nhưng khi đem 5 tấc 3 chia cho 8, số thành là 6 phân 5 ly và đem 6 phân 5 ly chia cho 5, số thành là 1 đúng như hướng dẫn của Thầy thì quả thực sai số quá lớn. Cung này cách Cung kia cách nhau chỉ bằng sợi tóc mà sai số lớn như thế thì cái Thước Thầy hướng dẫn làm sao mà linh thiêng cho đặng? Cho rằng lỗi tại nhà in, cây thước phải dài 5 tấc 2 mới đúng. Thì cứ coi như là 5 tấc 2, nhưng lấy độ dài này chia cho 8 rồi lại chia cho 5, số thành đúng 1 phân, thì cũng lại vẫn còn sai! Ngay từ đời nhà Chu ( 257 năm trước Tây Lịch) cùng thời với triều đại Thục An Dương Vương nước Việt, con người đã biết dùng Chỉ và Phân theo hệ thống Bát Phân để làm đơn vị đo chiều dài. Một Chỉ dài 0,408 mét, có 8 Phân thì một Phân là 0,051 mét. Về sau từ con số đơn vị của Phân là 0,051 nhân cho 10 theo hệ thống Thập Phân thành con số 0,51. Cái thước dài 0,51m hay 51 cm lâu ngày trở thành cái thước Lỗ Ban đồng hóa với tà thuật của các Thầy Bùa, Thầy Pháp. Mãi cho đến hơn 2000 năm sau, các nhà Thông Thái Sinh Cơ Học mới giật mình bái phục khi tìm ra được Tần số của ngoại âm là 4,9 từ đó suy ra đơn vị Thời Gian là 1 sec / 4,9 = 0,20408. Biết được đơn vị Thời Gian, các nhà Toán Học tính ra được Gia Tốc Trọng Lực ở mặt địa cầu là 40,8 bằng cách lấy 980 nhân với bình phương của đơn vị thời gian: 0,20408. Con số 0,408 chính là đơn vị Chỉ của nền Văn minh Thá cũng chính là Gia Tốc Trọng Lực ở mặt địa cầu tương đương với 2 lần trị số của đơn vị thời gian. Như vậy, cái thước mà người đời nay cho rằng đó là cái thước Lỗ Ban huyền diệu, mang nhiều sắc thái bùa phép, người đời xưa sử dụng để đo đạt có độ dài là 51 cm, phát xuất từ cơ sở tính toán khoa học của các nhà Khoa Học Thái Cổ. Mê tín dị đoan hay bác học thì lại tùy vào thái độ và trình độ của người sử dụng. Người mê tín thì cho rằng cái thước chính là chiếc gậy Thần Linh hiễn. là vì ít ra, sau khi đo đạt sửa chữa theo đúng hướng dẫn thì gia chủ có nhiều an tâm, hy vọng nhiều hơn, bớt được căng thẳng, giãm được ưu tư thì có thể né tránh được nhiều tai biến hậu quả có thể chết người. Người bác học thì cho rằng cái thước chỉ là phương tiện để đo đạt chính xác mà thôi. Theo thuyết về năng lực bá động thì các loài sinh vật luôn luôn chịu ảnh hưỡng của các làn sóng từ cấp thấp nhất là ngoại âm đến cấp cao nhất là siêu âm đặc biệt là làn sóng ngoại âm phát ra từ lòng đất là nguồn năng lực chi phối đời sống con người qua cơ sở vật chất là nhà cửa của họ. Theo tác giả tập Thái Cổ Khoa Học Toàn Thư – Phần Dương Cơ Học thì nhà cửa luôn luôn được xây dựng trên một nền cứng chắc và đủ rộng để chịu được toàn bộ trọng lượng của cái nhà. Sự liên kết của các nền nhà thành một khối chung sẽ tạo thành một tảng. Hỉnh thức thông thường của tảng là một lớp nền mỏng trải dài trên một vùng đất xốp, mềm, có thể so sánh với một thanh gổ trên mặt nước. Lòng đất luôn luôn phát ra làn sóng ngoại âm là hình thức nhỏ của địa chấn, cho nên tảng phải chịu ảnh hưởng và trở nên một tảng rung động. Trong sự rung động này có sự cộng hưỡng. Sự truyền làn sóng và sự phản hồi làn sóng tạo nên một hệ thống sóng đứng mà hai đầu tảng là hai đầu tự do tạo thành hai bụng của thoi sóng đứng. Ở chính giữa gọi là Nút không rung động giống y như hình ảnh của thanh gổ dài nhấp nhô hai đầu. Ngoại âm của đất có nhiều làn sóng tần số khác nhau và mức độ cộng hưỡng tùy sẽ thuộc vào độ dài, độ dày và độ rắn chắc của tảng, nhưng thường thì độ dài quan trọng hơn. Tảng dài thì có nhiều Nút và nhiều Bụng là vì một tảng dài rung động thì sẽ tạo xen kẻ thành nhiều Bụng và Nút. Mỗi vị trí này được gọi là Tọa Vị. Theo như tác giả tập Thái Cổ Khoa Học Toàn Thư , nếu tọa vị là Bụng thì gọi là Tọa Vị Dương là nơi có sự rung chuyển cao độ. Nếu Tọa Vị là một Nút thì gọi là Tọa Vị Aạm là nơi sự rung động hầu như không có. Cây thước Lỗ Ban 51 cm được chia thành 8 cung bằng nhau. Mỗi cung lại chia thành 5 cung nhỏ. 8 cũng có thể là con số của Bát Quái và cũng là thứ tự của hàng đơn vị từ 1 đến 8 thuộc hệ thống Bát Phân . 5 cũng có thể là Ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hoả, Thổ. – Cung đầu tiên là Quý Nhơn Cung hành Mộc là cung Tốt . – Cung thứ 2 là Hiểm Họa Cung hành Thổ là cung Xấu. – Cung thứ 3 là Thiên Tai Cung hành Thổ là cung Xấu. – Cung thứ 4 là Thiên Tài Cung hành Thủy là cung Tốt. – Cung thứ 5 là Nhơn Lộc Cung hành Kim là cung Tốt. – Cung thứ 6 là Cô Độc Cung hành Hỏa là cung Xấu. – Cung thứ 7 là Thiên Tặc Cung hành Hỏa (Kim?) là cung Xấu. – Cung thứ 8 là Tể Tướng Cung hành Thổ là cung Tốt. Riêng cung Thứ 7 có sách cho rằng hành Hỏa (Thất Tai Hỏa cục), nhưng cũng có sách thì cho rằng hành Kim (Thất Tai Kim cục). Xem kỷ lại thì cung này cũng là cung cư ngụ của sao Phá Quân. Trong Tử Vi sao Phá Quân là Bắc Đẩu Tinh hành Thủy là Hung và Hao tinh chủ tán, nhưng trong Bát Biến Du Niên của phép địa Dương Trạch thì khẳng định Phá Quân hành Kim là chốn cư của Tuyệt Mạng cũng vốn hành Kim. Khoa Địa cho rằng Sao Phá Quân nguyên là hành Kim mà cái Thước Lỗ Ban chỉ dùng cho Khoa Địa cho nên có thể khẳng định được Thất Tai Kim cục có hơn là Thất Tai Hỏa cục. Theo hệ thống Bát Phân từ 1 cho đến 8 là số cuối của hàng đơn vị thì Cung thứ nhất và cung thứ 8 chắc chắn phải là 2 Bụng tức là 2 tọa vị Dương. Hai cung ở giữa là cung thứ 4 và thứ 5 là hai cung Tốt cho nên cung 4 và 5 cũng phải là 2 Bụng tức cũng là 2 tọa vị Dương. Còn lại là Hai Nút sẽ ở tại giữa cung 2 – 3 và giữa cung 6 – 7 vị chi tất cả là 4 Tọa vị Âm. Sự phân chia 1 thành 2, 2 thành 4, 4 thành 8 chắc chắn bắt nguồn từ thuyết Aạm Dương Ngũ Hành mấu chốt của Thái Cực sinh Lưỡng Nghi- Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng – Tứ tượng sinh Bát Quái. . . Như vậy, cây thước Lỗ Ban là Khoa Học hay Mê Tín, Dị Đoan?, Pabongka Rinpoche tại trang 169 Trong tập Giải Thoát trong Lòng Tay Kim Cang Xuất Bản năm 1995 có dạy: Kẻ ngu biết mình ngu, đích thị là hiền trí. Ngu tự cho mình trí, mới thật là chí ngu. Thích Nữ Trí Hãi đã dịch như thế! (Courtesy of Tin Việt News) . Chuyện Địa Lý Phong Thủy: Cây Thước Lỗ Ban Quảng Đức Lịch Sách Xuân Ất Mẹo 1975, Chiêm Tinh Gia Huỳnh Liên có viết về cây Thước Lỗ Ban và dạy. có cái Thước Lỗ Ban Bát Trạch. Biết được Thầy có chỉ vẽ cách làm Thước Lỗ Ban thì cuốn Lịch Sách Xuân Ất Mão được rất nhiều gia đình mua về làm tài liệu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Ngọc Thư (Phần 1)
  • Bảo Ngọc Thư (Địa Lý Phong Thủy)
  • Phật Giáo Và Địa Lý Phong Thủy
  • Bản Chất Khoa Học Của Ngành Địa Lý Phong Thủy Học Đông Phương
  • Phong Thủy Qua Các Đời Vua Việt Nam
  • Phong Thủy Địa Lý Toàn Thư + Tả Ao Địa Lý Toàn Thư

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Môn Tu Luyện Địa Lý Phong Thủy Của Phái Nhất Nam
  • Những Thầy Phong Thủy Giỏi Xem Địa Lý Ở Tp Hcm
  • Vì Sao Thầy Phong Thủy Địa Lý Lại Được Coi Trọng Đến Vậy?
  • Hướng Dẫn Đặt Tên Con Trai Mệnh Kim & Đặt Tên Con Gái Mệnh Kim
  • Đặt Tên Cho Con Trai Năm 2022 Theo Phong Thủy

    Giới thiệu phong thủy địa lý toàn thư + tả ao địa lý toàn thư

    Phong thủy địa lý toàn thư

    Cuốn sách Phong thủy địa lý toàn thư dựa trên cơ sở của “Địa lý ngũ quyết”, tác phẩm của Triệu Cửu Phong người Triều Thanh , một tuyệt tác trong nghìn năm lịch sử phong thủy , dung ngôn ngữ dễ hiểu kèm theo hình vẽ minh họa , giúp mọi người học phong thủy dễ dàng hơn.

    Cuốn sách có hơn 100 bức vẽ tay , hơn 200 bức vẽ la bàn chính xác đồng thời hoàn nguyên 50 bức vẽ gốc thành bức vẽ cảnh thực , để thuận tiện hơn cho độc giả tự học .

    Tả Ao Địa Lý Toàn Thư

    Cụ Tả Ao tên thật là Nguyễn Đức Huyên, người làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Cụ sinh vào thời Lê – Trịnh, nhà nghèo, cha mất sớm từ lúc còn nhỏ, mẹ lại mù loà, cụ phải đến ở giúp việc cho một thầy người Tàu để chữa bệnh cho mẹ. Sau đó, cụ theo ông thầy về Tàu học thuốc chữa bệnh và học khoa Địa lý ở Trung Hoa trong nhiều năm với một thầy Địa lý lừng danh khi cụ chữa lành bệnh mắt cho ông ta. Sau này khi về nước, cụ đã bỏ hơn 40 năm đi thực tế khắp nơi, từ những kinh nghiệm đó cụ đã dốc hết tâm trí viết nên bộ sách Địa lý Tả Ao này.

    Sách Địa lý Tả Ao được viết từ căn bản đến chi tiết, rất súc tích nhưng dễ học, dễ hiểu. Từ lúc sinh thời, cụ đã được người đời tôn là Thánh Địa lý Tả Ao. Cụ là người Việt Nam đầu tiên đi học khoa Địa lý tận nơi khai sáng khoa này là Trung Hoa và cụ cũng là người Việt Nam đầu tiên viết sách Địa lý còn truyền đến ngày nay.

    Giá sản phẩm trên Tiki đã bao gồm thuế theo luật hiện hành. Tuy nhiên tuỳ vào từng loại sản phẩm hoặc phương thức, địa chỉ giao hàng mà có thể phát sinh thêm chi phí khác như phí vận chuyển, phụ phí hàng cồng kềnh, …

    Thông tin chi tiết

    Công ty phát hành

    Nhà sách Minh Lâm

    Nhà xuất bản

    Nhà Xuất Bản Đà Nẵng

    SKU

    5039418486590

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cao Biền Trấn Yểm Nước Nam Và Cái Kết: Đừng Bao Giờ Coi Thường Người Việt
  • Cao Biền Tấu Thư Địa Lý Kiểu Tự
  • Cao Biền Tấu Thư Địa Cảo (高駢奏書地稿)
  • Cây Sống Đời Phong Thủy Có Tác Dụng Gì, Hợp Với Tuổi Nào, Mệnh Gì
  • Công Dụng Chữa Bệnh Của Cây Sống Đời Và Ý Nghĩa Phong Thủy
  • Phong Thủy Địa Lý Tả Ao

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Giai Thoại Nổi Tiếng Về Bậc Thầy Phong Thủy Tả Ao
  • Giai Thoại Về Thầy Phong Thủy Tả Ao
  • Những Giai Thoại Cổ Về Hành Trạng Thuật Phong Thủy Của Thánh Tả Ao
  • Combo Phong Thủy Địa Lý Tả Ao (Trọn Bộ 4 Cuốn)
  • Câu Chuyện Truyền Kỳ Về Cụ Tả Ao
  • CHÂN TRUYỀN CHÍNH PHÁP

    SƠ LƯỢC VỀ TẢ AO: Tả Ao (左幼) hay Tả Ao tiên sinh (左幼先生), là nhân vật làm nghề địa lý phong thuỷ nổi tiếng ở Việt Nam. Ông được cho là tác giả của một số cuốn sách Hán Nôm cổ truyền bá thuật phong thủy của Việt Nam. Trong dân gian tương truyền nhiều giai thoại cổ về hành trạng thuật phong thủy của ông ở các làng xã Việt Nam thời xưa. Tả Ao có quê ở làng Tả Ao, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay thuộc xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh)

    CUỘC ĐỜI CỦA TẢ AO TIÊN SINH:

    Cái tên Tả Ao không phải là tên thật của nhân vật này, mà là tên làng quê của ông, được ông lấy làm tên hiệu và gắn với tác phẩm của mình. Cũng tương truyền, tên ông được người xưa lấy tên làng, nơi ông sinh ra để gọi, mà không gọi tên thật. Tên thật của ông thì không rõ ràng. Bách khoa toàn thư Việt Nam viết rằng: Tả Ao, trong sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, có tên là Hoàng Chiêm hay Hoàng Chỉ. Còn trong dân gian, xuất phát từ quê hương ông, lưu truyền tên gọi thật là Vũ Đức Huyền. Cũng có nguồn nói rằng ông có tên là Nguyễn Đức Huyền. Tả Ao sinh vào khoảng năm Nhâm Tuất (1442), sống thời Lê sơ (Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông và Lê Uy Mục, tức là khoảng những năm 1442-1509). Có tài liệu cho rằng Tả Ao sinh sống trong khoảng đời vua Lê Hy Tông (1676-1704). Ngoài ra, có các sách Địa lý phong thủy Tả Ao và Địa lý Tả Ao chính tông của tác giả Vương Thị Nhị Mười; Nghiên cứu Phong thủy và Phong thủy Việt Nam của Ngô Nguyên Phi… đều nói sơ lược về lai lịch Tả Ao. Các sử gia thời Lê Nguyễn đều không chép về ông nên cuộc đời ông chỉ được chép tản mát trong một số truyện, sách đại lý phong thủy thời nhà Nguyễn và sau này. Sách Hán Nôm được cho là do Tả Ao truyền lại gồm: Tả Ao chân truyền di thư (左 幼 真 傳 遺 書), Tả Ao chân truyền tập (左 幼 真 傳 集), Tả Ao chân truyền địa lý (5 tập-左 幼 真 傳 地 理), Tả Ao tiên sinh bí truyền gia bảo trân tàng (左 幼 先 生 祕 傳 家 寶 珍 藏), Tả Ao tiên sinh địa lý (左 幼 先 生 地 理), Tả Ao xã tiên sư thư truyền bí mật các lục (左 幼 社 先 師 書 傳 祕 宓各 局). Các tác phẩm này hiện lưu trữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Tuy nhiên Viện Hán Nôm cũng chú thích rằng: Tả Ao là tên hiệu của Hoàng Chiêm. Tả Ao còn để lại hai bộ sách, đó là: Địa đạo Diễn ca (120 câu văn vần), Dã đàm hay Tầm Long gia truyền Bảo đàm (văn xuôi) và một số dị bản khác: “Phong thủy Địa lý Tả Ao Địa lý vi sư pháp”, “Phong thủy Địa lý Tả Ao Bảo ngọc thư” (của Vương Thị Nhị Mười-Nhà xuất bản Mũi Cà Mau-2005) và “Dã đàm Tả Ao” (của Cao Trung xuất bản tại Sài Gòn năm 1974)”… Các sách vở cũng như truyền thuyết đều coi ông là Thánh Địa lý Tả Ao, trạng Tả Ao, là thuỷ tổ khai môn, đệ nhất về địa lý phong thuỷ Việt Nam, giỏi địa lý phong thủy như Cao Biền của Trung Quốc.

    GIAI THOẠI VÀ TRUYỀN THUYẾT

    Tả Ao Tiên sinh – Thầy địa lý Tả Ao là ông Mỗ (không xác định được danh tính). Thuở nhỏ, mồ côi cha, nhà nghèo, mẹ mắt lòa, ông theo một khách buôn ở phố Phù Thạch (gần rú Thành ở Nghệ An) về Tàu để lấy thuốc chữa bệnh cho thân mẫu. Thầy thuốc khen Tả Ao có hiếu nên hết lòng dạy cho. Khi có thầy địa lý bị mù loà mời ông thầy đến chữa, do già yếu nên ông thầy sai Tả Ao đi chữa thay. Khi Tả Ao chữa khỏi mù loà, ông thầy địa lý nhìn thấy Tả Ao nghĩ bụng: Người này có thể truyền nghề cho được đây. Tả Ao cũng có ý muốn học, vả lại thấy Tả Ao thông minh, hiếu học, để trả ơn chữa bệnh nên thầy địa lý nọ đã truyền hết nghề, hơn một năm đã giỏi. Để thử tay nghề của học trò, ông thầy bèn đổ cát thành hình núi sông và vùi một trăm đồng tiền ở các huyệt đạo, rồi bảo Tả Ao tìm thấy huyệt thì xuyên kim xuống. Tả Ao đã cắm được chín chín kim đúng lỗ đồng tiền (chính huyệt), chỉ sai có một. Xong ông thầy nói: Nghề của ta đã sang nước Nam mất rồi. Rồi cho Tả Ao cái tróc long và thần chú. Tả Ao về nước Nam chữa khỏi bệnh cho thân mẫu. Trước khi từ biệt, ông thầy địa lý bên Tàu dặn: Khi về Nam, nếu qua núi Hồng Lĩnh thì đừng lên. Nhưng một lần đi qua Hồng Lĩnh, không hiểu duyên cớ gì Tả Ao lại lên núi và thấy kiểu đất Cửu long tranh châu (chín rồng tranh ngọc), mừng mà nói rằng: Huyệt đế vương đây rồi, thầy dặn không lên là vì thế. Bèn đưa mộ cha về táng ở đấy. Ít lâu, vợ Tả Ao sinh hạ được một con trai. Khi ấy, nhà Minh bên Trung Quốc, các thầy thiên văn phát hiện các vì tinh tú đều chầu về nước Nam nên tâu với nhà vua, ý là nước Nam được đất sẽ sinh ra người tài, sẽ hại cho nhà Minh. Vua bèn truyền các thầy địa lý là nếu ai đặt đất hoặc dạy cho người Nam thì phải sang tìm mà phá đi, nếu không sẽ bị tru di tam tộc. Ông thầy của Tả Ao biết là chỉ có học trò của mình mới làm được việc này nên cho con trai tìm đường xuống nước Nam mà hỏi: Từ khi đại huynh về đã cất được mộ phần gia tiên nào chưa. Tả Ao cũng thực tâm thuật lại việc đặt mộ cha mình. Con thầy Tàu dùng mẹo cất lấy ngôi mộ, bắt con trai của Tả Ao đem về Tàu. Rồi thân mẫu của Tả Ao mất, Tả Ao tìm được đất Hàm rồng ở ngoài nơi hải đảo để táng. Đến ngày giờ định táng thì trời gió to sóng lớn, không mang ra được. Lát sau trời yên, biển lặng ở đó nổi lên một bãi bồi, Tả Ao bèn than rằng: Đây là hàm rồng, năm trăm năm rồng mới há miệng một lần trong một khắc. Trời đã không cho thì đúng là số rồi. Rồi Tả Ao chán nản gia cảnh, bỏ quê hương chu du khắp bốn phương để chữa bệnh, tìm đất giúp người. Khi già yếu, Tả Ao cũng đã chọn cho mình chỗ an táng kiểu đất Nhất khuyển trục quần dương (chó đuổi đàn dê) ở xứ Đồng Khoai. Nếu táng được ở đây thì chỉ ba ngày sau là thành Địa Tiên. Tả Ao có hai người con trai nhưng do Tả Ao chu du thiên hạ, không màng danh vọng, bổng lộc nên gia cảnh, con cái thì bần hàn. Lúc sáu lăm tuổi, biết mình sắp về chầu tiên tổ nên bảo hai con khiêng đến chỗ ấy, để nằm dưới mộ và sẽ tự phân kim (chôn lúc chưa chết hẳn), dặn con cứ thế mà làm. Mới được nửa đường, biết là sẽ chết trước khi đến nơi nên Tả Ao bèn chỉ đại một gò bên đường mà dặn con rằng: Chỗ kia là ngôi Huyết thực, bất đắc dĩ thì cứ táng ở đó, sẽ được người ta cúng tế. Hai con bèn táng luôn ở đó (Sách Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án – Nhà xuất bản Văn học 2001, sách Nam Hải dị nhân của Phan Kế Bính – Nhà xuất bản Thanh niên 1999). Tả Ao tìm được chỗ táng cho thân mẫu ngoài bãi biển nhưng khi chuẩn bị táng thì mưa gió, sóng biển ầm ầm nên người anh trai sợ mất mộ nên không cho táng. Khi Tả Ao ngã bệnh phương xa mới sai học trò đưa về để táng tại nơi đã chọn. Về được nửa đường người học trò đó lại mất trước, Tả Ao hay tin thì ốm nặng bèn sai người nhà mang đến chỗ ấy. Đường thì xa, liệu chừng không đưa được đến nơi nên bèn chỉ cái gò bên dọc đường… (Sách Nam Hải dị nhân của Phan Kế Bính – Nhà xuất bản Thanh niên 1999). Ngày nay ở Việt Nam vẫn còn nhiều truyền thuyết, giai thoại được sách vở ghi lại, truyền miệng trong dân gian như việc Tả Ao phá trấn yểm của Cao Biền trên núi Tản Viên ở Hà Nội, núi Hàm Rồng ở Thanh Hóa, các truyền thuyết, giai thoại Tả Ao tìm nơi đất tốt để đặt đình chùa, đền miếu, mồ mả, nhà cửa; giúp dân nghèo, trị kẻ gian ác. Tương truyền làng này có tục nọ, nghề kia là do Tả Ao chọn đất, hướng đình; họ này phát danh khoa bảng, họ kia phát công hầu khanh tướng là do Tả Ao tìm long mạch, huyệt đạo đặt mồ mả. Có một truyền thuyết còn lưu truyền đến ngày nay tại thôn Nam Trì xã Đặng Lễ huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên (nơi có đền thờ Tả Ao): Truyền tích gắn liền với ngôi đền thờ Tả Ao làng Nam Trì. còn lưu truyền đến ngày nay là thời kỳ Tả Ao ở khu vực Hưng Yên một thời gian. Tả Ao về huyện Thiên Thi (tên cũ của Ân Thi) đã cắm đất, chọn ngày xây đình chùa, đặt mồ mả để cho hai làng Thổ Hoàng (nay thuộc thị trấn Ân Thi) và Hới (tức làng Hải Triều, trước thuộc huyện Tiên Lữ, nay thuộc Hưng Yên) phát về đường khoa cử, giàu có nên lưu truyền trong dân gian câu ngạn ngữ nhất Thi nhì Hới. Tại Nam Trì, Tả Ao đã giúp dân làng lập lại làng, chuyển đền, chùa và tìm đất đặt mộ phần cho họ Đinh tại gò Tam Thai vượng về võ tướng. Đến năm Giáp Thìn niên hiệu Quảng Hòa thứ 4 (1544) đời Mạc Phúc Hải, người họ Đinh làng Nam Trì là Đinh Tú đỗ Đệ tam giáp Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân và được bổ nhiệm làm quan Hiến Sát xứ Hải Dương, được phong tước Phù Nham bá. Hậu duệ của Đinh Tú (lăng mộ tại Nam Trì), chuyển sang sống ở làng Hàm Giang (Hàn Giang) huyện Cẩm Giàng là Đinh Văn Tả là một danh tướng thời Lê-Trịnh.

    SÁCH VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Sách Hán Nôm được cho là do Tả Ao truyền lại gồm: Tả Ao chân truyền di thư (左 幼 真 傳 遺 書), Tả Ao chân truyền tập (左 幼 真 傳 集), Tả Ao chân truyền địa lý (5 tập-左 幼 真 傳 地 理), Tả Ao tiên sinh bí truyền gia bảo trân tàng (左 幼 先 生 祕 傳 家 寶 珍 藏), Tả Ao tiên sinh địa lý (左 幼 先 生 地 理), Tả Ao xã tiên sư thư truyền bí mật các lục (左 幼 社 先 師 書 傳 祕 宓各 局). Các tác phẩm này hiện lưu trữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Tuy nhiên Viện Hán Nôm cũng chú thích rằng: Tả Ao là tên hiệu của Hoàng Chiêm. Tả Ao còn để lại hai bộ sách, đó là: Địa đạo Diễn ca (120 câu văn vần), Dã đàm hay Tầm Long gia truyền Bảo đàm (văn xuôi) và một số dị bản khác: “Phong thủy Địa lý Tả Ao Địa lý vi sư pháp”, “Phong thủy Địa lý Tả Ao Bảo ngọc thư” (của Vương Thị Nhị Mười-Nhà xuất bản Mũi Cà Mau-2005) và “Dã đàm Tả Ao” (của Cao Trung xuất bản tại Sài Gòn năm 1974)”… Các sách vở cũng như truyền thuyết đều coi ông là Thánh Địa lý Tả Ao, trạng Tả Ao, là thuỷ tổ khai môn, đệ nhất về địa lý phong thuỷ Việt Nam, giỏi địa lý phong thủy như Cao Biền của Trung Quốc

    ĐỀN THỜ CỦA TẢ AO TIÊN SINH

    Có rất nhiều truyền thuyết, giai thoại được sách vở ghi lại, nhất là giai thoại khi Tả Ao mất, táng ở “ngôi Huyết thực” để được một làng cúng tế. Thực tế, cũng chưa thấy ở đâu (kể cả ở quê hương) có đền thờ Tả Ao và cũng không thấy Tả Ao được phong thần. Hiện nay, có lẽ là duy nhất ở thôn Nam Trì xã Đặng Lễ huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên có thờ Tả Ao. Đền Nam Trì nguyên thờ tam vị Thượng đẳng phúc Thần: Thừa tướng Lữ Gia (Bảo Công), tướng Nguyễn Danh Lang (Lang Công), Cao Biền (Cao Vương) và Tả Ao gắn với Lễ hội Nam Trì (hay Lễ hội: Bảo, Lang, Biền). Trong danh sách 7 vị thần thờ ở đền Nam Trì (3 vị trên và 1 vị phu nhân Lữ Gia và 2 vị phu nhân Cao Biền) thì vị thứ 7 là Nguyễn Lang nhưng thực tế ở Nam Trì thì chỉ biết vị thứ 7 là Tả Ao chứ không biết Nguyễn Lang là ai. Theo lịch sử và thần tích thờ tự đền Nam Trì thì khi Tả Ao giúp dân làng lập lại làng, chuyển chùa, đền thờ về phía Tây Nam; nhớ công ơn Tả Ao dân làng Nam Trì đã tôn Tả Ao là vị Bản cảnh Thành hoàng và thờ cùng tam vị Thượng đẳng phúc Thần từ đó đến nay. Hiện trong đền Nam Trì có câu đối của Tả Ao tả về địa lý, phong thuỷ làng Nam Trì: Tây lộ khê lưu kim tại hậu – Đông giang thuỷ tụ mộc cư tiền nghĩa là phía tây của đường làng có dòng nước chảy, phía sau của làng là hướng Tây Bắc (hướng tây bắc hành kim) – phía đông làng có sông nước tụ làng nhìn về hướng đông nam (hướng đông nam hành mộc)

    PHONG THỦY ĐỊA LÝ TẢ AO

    CHÂN TRUYỀN CHÍNH PHÁP

    • Tư vấn phong thủy : Nhà ở, biệt thự, chung cư, nhà thờ họ….
    • Tư vấn địa lý : Tư vấn huyệt mộ đẹp, huyệt kết, xem hướng….
    • Tư vấn ngày đẹp : Ngày cưới hỏi, động thổ, trấn trạch, khai trương…
    • Tư vấn sinh con : Tư vấn sinh con trai, đặt tến, hướng nghề nghiệp…
    • Tư vấn doanh nghiệp : Đặt tên doanh nghiệp, tên sản phẩm, bộ nhận diện…
    • Tư vấn đồ thờ : Đồ thờ hợp phong thủy…

    MỌI THÔNG TIN VUI LÒNG LIÊN HỆ TƯ VẤN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phong Thủy Tả Ao / Kỳ 3 Đình Làng Có 9 Cổng Sen
  • Phong Thủy Tả Ao Ky 2. Huyệt Mắt Rồng Và Hậu Duệ Tả Ao
  • Hướng Ngồi Làm Việc Tuổi Ất Mão 1975 Hợp Phong Thủy, Mang Lại May Mắn
  • Phong Thủy Xây Nhà Năm 2022 Cho Người Tuổi Ất Mão 1975
  • Chọn Đá Phong Thủy Hợp Tuổi Tân Mão
  • Bảo Ngọc Thư (Địa Lý Phong Thủy)

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảo Ngọc Thư (Phần 1)
  • Tài Liệu Chuyện Địa Lý Phong Thủy: Cây Thước Lỗ Ban Pptx
  • Chuyện Địa Lý Phong Thủy Cây Thước Lỗ Ban
  • Tổng Hợp Các Sách Nghiên Cứu Phong Thủy Địa Lý
  • Chọn Hướng Nhà Phù Hợp Với Gia Chủ Tuổi Tỵ
  • Mô tả

    Nước Việt Nam ta ít ai là không biết tới một câu tục ngữ: “Người ta sống về mồ mả chứ không ai sống về cả bát cơm”. Câu tục ngữ trên đủ để chứng minh rằng ông cha của chúng ta, từ rất nhiều đời đã tôn sùng và tin tưởng ở khoa Địa lý Phong Thuỷ một cách rất đặc biệt. Trong lòng người Việt theo đạo Khổng, Mạnh luôn luôn mang nặng hai hoài bão sau đây:

    Chính vì mang nặng trong lòng hai hoài bão trên, nên ta thấy có nhiều người, nhiều gia đình đã khổ công tìm thấy để đất, có khi phải nuôi thầy cả tháng cả năm ở trong nhà, chiều chuộng hầu hạ thầy hơn chính cả những người thân yêu nhất trong gia đình. Thầy địa lý vì vậy rất được mọi người vị nể và kính trọng. Tuy nhiên, số thầy hay thì quá ít mà dở thì quá nhiều, đấy là không kể đến những người chẳng biết gì về địa lý cũng mạo danh thầy để làm tiền thiên hạ. Trong số những người ham chuộng về môn địa lý, có lắm vị còn sang cả bên Tàu để đón các thầy địa lý Tàu về để đất cho nhà mình, vì các vị sẵn có thành kiến là thầy Tàu giỏi hơn thầy Việt Nam. Nhưng thật ra thì thầy Tàu cũng chẳng giỏi gì hơn thầy Việt Nam, phần nhiều các thầy Tàu cũng bịp bợm như ai, có điều là các thầy bịp dễ hơn người Việt Nam, vì các thầy là người ngoại quốc lại nói tiếng ngoại quốc.

    Xem vậy thì đủ biết khoa địa lý quả đã có một tầm ảnh hưởng quan trọng, sâu xa trong đời sống dân tộc Việt Nam. Không ai còn có thể chối cãi được giá trị thực tế của nó.

    Mục I – Thể thức tương đồng

    Hình thể kết huyệt

    Huyệt tinh

    Huyệt pháp

    Ngũ tinh huyệt trường

    Quán mạch

    Ẩn mạch hình đồ

    Luận huyệt trung thai, tức, quyết

    Luận huyệt trung sa sinh, tử, bí quyết

    Luận huyệt trung thuỷ, minh, ám quyết:

    Thiển, thâm, pháp, quyết

    Tổng luận

    Long hổ

    Hạ sa

    Minh đường

    Triều án

    Quan, quỷ, lộc, diệu

    Sơn cốc bình dương

    Tổng luận

    Sơn thừa tú khí huyệt pháp

    Thạch thừa sát khí huyệt pháp

    Bình thừa tích khí huyệt pháp

    Thuỷ thừa di khí huyệt pháp

    Nê thừa sinh khí huyệt pháp

    Âm dương nhị kết pháp minh

    Cửu tinh huyệt pháp luận

    Tham lang tinh

    Mười hai phép kết huyệt ở tham lang

    Cự môn tinh

    Cự môn bát huyệt pháp

    Lộc tồn thập bát huyệt pháp

    Văn khúc tinh

    Văn khúc tứ huyệt pháp

    Liêm trinh nhị huyệt pháp

    Vũ khúc tinh

    Vũ khúc bật huyệt pháp

    Tả phụ tinh thể

    Tả phụ lục huyệt pháp

    Hữu bật tinh thể

    Hữu bật thập huyệt pháp

    Đảo ảnh tam thập lục huyệt pháp

    Ngủ tinh tróc mạch chính, biến hình đồ

    Kim tinh tróc mạch thức

    Mộc tinh

    Thuỷ tinh tróc mạch thức

    Hoả tinh tróc mạch thức

    Thổ tinh tróc mạch thức

    Tam thế huyệt

    Danh nghĩa 12 huyệt phụ

    Thiên địa nhân

    Tứ sát

    Cửu dạng

    Chỉ những khách hàng đã đăng nhập và mua sản phẩm này mới có thể đưa ra đánh giá.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phật Giáo Và Địa Lý Phong Thủy
  • Bản Chất Khoa Học Của Ngành Địa Lý Phong Thủy Học Đông Phương
  • Phong Thủy Qua Các Đời Vua Việt Nam
  • Ông Tổ Phong Thủy Địa Lý Việt Nam
  • Ông Tổ Địa Lý Phong Thủy Việt Nam
  • Địa Lý Âm Trạch Tả Ao

    --- Bài mới hơn ---

  • Thế Đất Và Âm Trạch (3/3)
  • Tử Vi Số Mệnh: Địa Lý Chính Tông Phong Thủy Âm Trạch
  • Phong Thủy Việt: Âm Trạch Phong Thủy Thần Khảo
  • Âm Trạch Phong Thủy Thần Khảo
  • Âm Trạch Phong Thủy Thần Khảo 越南道教
  • TÂN TRANG ĐỊA LÝ

    Tặng người hữu duyên

    3/- Có lần cụ tìm thấy được một Cuộc Đất có Huyệt Kết phát thành địa tiên khi chôn người chết vào. Lúc lâm chung cụ thuê người gánh cụ tới Cuộc Đất trên nhưng trên đường đi thì cụ đã tạ thế nên đành chôn cụ bên vệ đường. Ba câu chuyện trên thôi thúc tính tò mò, lòng tham lam và đưa tôi vào con đường tìm hiểu Khoa Địa Lý. Vì bài viết này nhắm mục đích dành cho thế hệ trẻ, phần đông không có khái niệm đúng về Khoa Địa Lý và khi muốn tìm hiểu thì lại bị sa vào hàng đống sách diễn tả vào phần ngọn thiếu khoa học mà lại mông lung như những cánh rừng với những danh từ và phương pháp tính toán lạ cổ xưa làm giới trẻ nản lòng nên tôi phải bắt đầu bài viết này bằng cách giải thích nghĩa các từ ngữ để các bạn trẻ đọc hiểu dần Khoa Địa Lý và điều tôi muốn diễn tả.

    Cuộc Đất là một vùng đất có Huyệt Kết khởi nguồn từ Tổ Sơn là một ngọn núi cao chuyển theo Mạch Long là luống đất cao hơn đất bình thường vài phân kéo dài từ Tồ Sơn đến Bình Điền là hồ nước nơi Mạch Long dừng lại tạo ra Huyệt Kết. Mạch Long đi có hai dòng nước theo đi hai bên. Trước khi dừng Mạch Long tạo một một mô đất gọi là Huyền Vũ. Từ Huyền Vũ đất kéo ra thành 2 mô đất dài 2 bên như 2 cánh tay bọc lấy Huyệt Kết bên trái gọi là Tay Long thường cao hơn bên phải gọi là Tay Hổ. Các đụn đất hay đồi nhỏ nằm sau Bình Điền quanh Huyệt Kết hay 2 bên Tay Long Tay Hổ thường được gọi bằng những tên như Án, Chu Tước,Thác, Lạc, Quan, Quỉ v.v… và tùy theo hình dáng còn được gọi là Bút, Nghiên, Ấn v.v… Dù Cuộc Đất có bao to hay bao xa với Tổ Sơn thì huyệt kết là một vạt đất chỉ nhỏ bằng chiếc chiếu có hình dáng khác nhau gọi là Oa, Kiềm ở đất núi và Nhũ, Đột ở đất bình nguyên. Các thầy địa lý thường nhìn vào hướng, vật thể quanh Cuộc Đất và hình thể Cuộc Đất để định được Huyệt Kết sẽ phát nên thứ gì : tàn bại, giàu sang, khoa bảng v.v… cho dòng họ người được đất trời ban.

    Phần khó nhất trong Khoa Địa Lý có người theo 30 năm cũng không nắm vững gọi là Thủy Pháp tức là nhìn hướng Thủy Khẩu là nơi nước phóng ra từ Bình Điền để định hướng đến của Mạch Long để định loại Cuộc Đất và hướng Huyệt Kết (4 loại, 24 hướng, mỗi hướng 15 độ).

    Khoa Địa Lý xuất phát từ Trung Hoa, theo sử sách vào thời Đường Trung Tôn. Cao Biền được phong làm An Nam Tiết Độ Sứ để đô hộ nước ta, là người giỏi khoa Địa Lý, được lệnh yểm phá các Cuộc Đất kết lớn nào khả dĩ tạo ra những bậc tài giỏi ở nước Nam có thể ảnh hưởng xấu đến Trung Quốc.

    Y đã làm và tấu về Trung Quốc trong tập “Cao Biền Tấu Thư Địa Lý Kiểu Tự” đề cập đến vị trí 632 huyệt chính và 1517 huyệt phụ mà y đã nhúng tay vào yểm phá, theo truyền thuyết có lúc Cao Biền dùng Phụ Đồng gọi các vị thần cai quản vùng đất nhập vào đồng nam đồng nữ rồi trừ đi, sau đó mới ra yểm đất nhưng cũng có những Cuộc Đất lớn Cao Biền thất bại trước các vị thần linh. Đến đời nhà Minh tướng Hoàng Phúc theo hai tướng Trương Phụ và Mộc Thạnh kéo quân vào Việt Nam để phò Trần diệt Hồ có mang theo tập sách trên với kế hoạch thâm độc định yểm nốt những Cuộc Đất lớn còn lại. May thay Lê Lợi đã thành công sau 10 năm kháng chiến chống nhà Minh tịch thu được toàn bộ tài liệu và cả tập “Cao Biền Tấu Thư Địa Lý Kiểu Tự” và đã truyền lại cho hậu thế đến ngày nay. Không biết Hoàng Phúc đã làm đến đâu mà chỉ thấy sau đời vua lê Lợi các anh hùng hào kiệt xuất thân ở miền bắc Việt Nam ít đi.

    Cụ Tả Ao tên thực là Nguyễn Đức Huyền sinh vào thời Hậu Lê tại làng Tả Ao huyện Nghi Sinh tỉnh Hà Tĩnh, theo học nghề thuốc với một thầy Tàu được thầy đánh giá là người có đạo đức nên được truyền cho nghề Địa Lý. Cụ không có đệ tử mà chỉ để lại cho hậu thế 2 tập sách là Địa Đạo Diễn Ca (120 câu thơ) và Dã Đàm Tả Ao (văn xuôi) được giáo sư Cao Trung diễn dịch lại trong các cuốn sách Địa Lý Tả Ao, Địa Lý Gia Truyền v.v… Tôi có may mắn gối đầu một vài cuốn nói về địa lý và có đọc được một vài đoạn tập tấu thư của Cao Biền.

    Khoa Địa Lý đã có mặt trong xã hội loài người trên mấy ngàn năm và có ảnh hưởng quan trọng sâu xa đến đời sống con người. Sự phát triển và sự tồn tại của Khoa Địa Lý làm cho nhiều người không dám phủ nhận tính chính xác của nó.

    Muốn cho giới trẻ hiểu và tin vào Khoa Địa lý thì phải sử dụng ngôn từ của khoa học ngày nay như: muốn cho vật chất hoạt động thì phải có lực tác dụng. Vậy lực gì đã tác dụng vào Mạch Long để mặt đất nhô lên có khi cao như bờ ruộng chạy dài từ Tổ Sơn đến Bình Điền ? (từ ngọn núi cao đến bờ hồ). Người xưa thường giải thích là khí Âm Dương của Trời Đất vì thời đó con người chưa biết đến Lực Điện Từ. Vậy nay chúng ta nên lý giải rằng lực tác dụng tạo nên Mạch Long là Lực Điện Từ trong sấm sét khi trời chuyển mưa đánh vào những ngọn núi cao (Tổ Sơn) tạo ra luồng điện chạy theo Mạch Long đền Bình Điền (bờ hồ) thì ngưng.

    Hoạt động của con người mới nhìn tưởng là bao la với nhiều loại nhiều thứ khác nhau nhưng phân tích kỹ thì chỉ qui vào 2 hoạt động chính mà thôi : Tái Tạo và Sáng Tạo. Tái Tạo làm tốt làm đẹp thêm những gì có sẵn trong thiên nhiên trong xã hội. Sáng Tạo là bằng tài trí của mình, con người phát minh hay tạo ra những cái mới. Lúc còn trẻ các khoa học gia thường cho rằng mình thông minh đã phát minh ra những cái mới lạ nhưng lúc về già họ mới hiểu rằng điều mình Sáng Tạo ra chẳng qua là thứ bắt chước từ thế giới tự nhiên hay hiểu được thế giới tự nhiên vì nói cho cùng mọi phát minh chỉ là những thứ bắt chước từ thế giới tự nhiên mà thôi. Nhà phát minh siêu đẳng nhất chính là Ông Tạo hay Tạo Hóa. Khoa Địa Lý là một khoa được thành hình nhờ các thầy địa lý ngày xưa nhìn vào cấu trúc của thế giới tự nhiên rồi dựa vào cấu trúc thiên nhiên đó cộng thêm sự hiểu biết của con người mà tạo thành một khoa phục vụ con người.

    Vậy chúng ta có biết được rằng các Khoa Học Gia Tây Phương có phát minh gì giống như cấu trúc trong thiên nhiên của Khoa Điạ Lý không ? Tôi xin trả lời : Đó là cột thu lôi chống sấm sét của nhà chọc trời. Cột thu lôi chính là Tổ Sơn, dây dẫn điện từ cột thu lôi xuống giếng nước chính là Mạch Long, giếng nước là Bình Điền và đất quanh giếng nước chính là Cuộc Đất.

    Khi phát minh ra cột Thu lôi vào năm 1725, cụ Benjamin Franklin vẫn chưa biết trong sấm sét có Lực Điện Từ và chắc chắn rằng cụ chẳng hề biết mô tê gì cấu trúc thiên nhiên trong Khoa Địa Lý để mà bắt chước. Phát minh của cụ cũng giống hàng vạn phát minh khác của các khoa học gia Phương Tây, trong một sáng một chiều, giật mình thấy nó giống những gì đã có sẵn trong thế giới tự nhiên và cúi đầu tôn sùng Tạo Hóa.

    Cụ Tả Ao không những là ông tổ Khoa Địa Lý của Việt Nam mà còn là một nhà thơ nhà văn thuộc hàng siêu đẳng, cụ đã gói ghém cả Khoa Địa Lý vào trong tập thơ Địa Đạo Diễn Ca với 120 câu thơ Hán văn bằng lời lẽ bình dị rồi có lẽ sợ người đời không hiểu và Khoa Địa Lý trở thành mai một nên cụ đã trước tác bộ Dã Đàm Tả Ao bằng văn xuôi. Những người rành về Khoa Địa Lý sau khi đọc được 2 bộ sách của cụ đều cho rằng cụ đã trình bày Khoa Địa Lý rất đơn giản khoa học và chính tông. Trong chương đầu tiên và là chương chính của bộ sách cụ bàn về Tầm Long Tróc Mạch tức là phương pháp đi tìm Mạch Long để từ đó định được vị trí và giá trị của Cuộc Đất, nghe nói từ chương này một thời làm cho các cụ mê Khoa Địa Lý còn hơn bọn thanh niên mê tứ đổ tường. Các cụ đã tay dù tay nải hàng chục năm đi từ làng này sang làng khác tìm Mạch Long để tìm cho ra Huyệt Kết mong thay đổi cuộc đời của giòng họ mình. Với những phương tiện ngày nay thì việc đi qua từng làng để tìm Mạch Long như các cụ ngày xưa không còn hợp thời nên chương này cần phải đổi tên thành chương Tầm Thủy Tróc Mạch.

    Tại sao ? vì chúng ta hiện đang có trong tay các phương tiện như xe hơi, máy bay và nhất là GOOGLE MAPS thì cái hồ nước (Bình Điền) và mô đất (Huyền Vũ ) có 2 luống đất vòng cung 2 bên (Tay Long, Tay Hổ) cũng không thoát khỏi mắt chúng ta. Các bạn trẻ ơi ! Xin hãy bắt chước các cụ ngày xưa lên đường Tầm Thủy Tróc Mạch bằng cách không cần bước đi mà ngồi yên trong phòng nhìn lên Google Maps khởi đi từ những cái hồ màu xanh gần nhà rồi lan rộng ra xa để tìm Bình Điền, Tay Long Tay Hổ và từ đó truy ra Mạch Long, truy ra Cuộc Đất mà thay đổi cuộc đời. Khi tìm được Cuộc Đất là bạn đã được Trời ban cho thứ quí thứ nhất trong dân gian (Nhất Mộ, Nhì Trạch, Tam Mệnh) thì bạn hãy bắt đầu tự chính mình tìm hiểu Khoa Địa Lý qua sách vở vì trong sách có ông thầy (Trung Thư Hữu Sư Phụ) và nếu có những nghi ngờ thì tham khảo những thầy Địa Lý nhưng cũng phải coi chừng vì thầy vô tông vô sư đang đầy dẫy trong thiên hạ, và cũng cần biết phân biệt giữa thầy Địa Lý và thầy Phong Thủy là một bên chuyên Âm Phần, một bên chuyên Dương Trạch. Giòng họ bạn tan nát hay huy hoàng ở trong tay bạn nên phải cẩn thận, phải nắm cho được phần Thủy Pháp trước khi lập mộ, phải chính tự mình tìm hiểu tin vào mình và tự mình thực hiện vì Thầy Địa Lý chính tông không bao giờ lập mộ vì tiền.

    Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ cho rằng nền khoa học hiện nay chưa đủ khả năng, đủ thẩm quyền để quyết đoán về giá trị của Khoa Địa Lý và biết đâu trong tương lai, với sự tiến triển của khoa học, Khoa Địa Lý lại được sùng thượng trên hoàn vũ như khoa châm cứu hiện nay. Ước muốn của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thọ cũng là ước muốn chung của những người rành Khoa Địa Lý nhưng sẽ không bao giờ thành hiện thực vì khoa học hiện đại chỉ đạt tới mức phát minh ra cột thu lôi để vô hiệu hóa Lực Điện Từ hung dữ của sấm sét chứ chưa đủ khả năng sử dụng Lực Điện Từ của sấm sét để phục vụ con người, dù biết rằng một tia chớp có thể thắp sáng một ngọn đèn 100w trong vài tháng. Khoa Địa Lý thì biết sử dụng Lực Điện Từ của sấm sét khi đánh vào những hòn núi cao (Tổ Sơn) để phục vụ con người nhưng lại căn cứ vào những thuyết và những cách tính toán rất khó khăn được chấp nhận trong giới khoa học, như thuyết Âm Dương, thuyết Ngũ Hành, Bát Quái, Thiên Can, Địa Chi v.v … và nhất là sự liên hệ giữa người chết và cuộc đời người sống khi táng xương thân nhân vào Huyệt Kết, là một sự huyền bí không thể giải thích bằng khoa học được.

    Vì bài viết này dành cho các bạn trẻ nên người viết chỉ nhắm vào mục đích đơn giản và khoa học hóa một phần Khoa Địa Lý theo thiển ý của mình và không dám tranh luận hay múa rìu qua mắt các bậc trưởng thượng đã bỏ cả cuộc đời mình trong Khoa Địa Lý. Người viết thấy được bọn Tàu Bắc Phương khi xưa không từ một mưu mô thủ đoạn nào để thôn tính Việt Nam, nay đến những kế hoạch hèn hạ như mua móng trâu, mua mèo để tàn phá nền nông nghiệp Việt Nam mà chúng cũng thi hành thì kế hoạch thâm độc của tướng Hoàng Phúc nhằm triệt tiêu các anh hùng hào kiệt Việt Nam từ trong trứng nước lẽ nào chúng không tiếp tục ?

    Dưới bài viết này tôi đính kèm hình ảnh một Cuộc Đất phát Đế Vương. Cuộc Đất rất dễ thấy trên GOOGLE MAPS vì nó có 3 Bình Điền (hồ nước) 3 Tay Long 3 Tay Hổ. Lúc nào các bạn trẻ tìm ra Cuộc Đất này mà cần giúp đỡ thì hãy đến Atlanta tìm tôi .Tôi sẽ làm tất cả những gì tôi có thể làm vì tôi cũng tin rằng Cuộc Đất này có thể đưa bạn hay con cháu bạn ngồi vào chổ ông Mỹ đen Barrack Obama đang ngồi. Chế độ dân chủ là một chế độ mà bất cứ ai cũng có quyền hy vọng trở thành tổng thống và niềm hy vọng đó đều có cơ trở thành hiện thực nếu được ông Trời ban cho một Cuộc Đất tốt.

    Cuộc Đất Phát Đế Vương

    Cuộc đất này có 3 Tay Long, 3 Tay Hổ, 3 Huyền Vũ và 3 hay trên 3 Bình Điền là có thể phát đế vương. Bên dưới có 3 hình Thủy nếu nằm ở hướng Bắc, bên trên có 3 hình Hỏa nếu nằm ở hướng Nam thì bên trái là Đông có 3 hình Mộc và bên phải là hướng Tây là hình Kim ở giữa hình Thổ là Cuộc Đất này nằm đúng ngũ hành thì phát lớn. Cụ Tả Ao nói về Cuộc Đất này như sau :

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dự Án Phong Thủy Mẫu
  • Lá Số Tử Vi Ông Đinh La Thăng: Chuẩn Từng Câu Từng Chữ
  • Tử Vi Phong Thủy Tuổi Mậu Tý Năm 2008
  • Vật Phẩm, Thiêng Vật Tử Vi Phong Thủy Theo Tuổi, Mệnh Mang Như Ý
  • Nào Cùng Coi Tuổi Sinh Con Năm 2022 Và Xem Mệnh Hợp Bố Mẹ
  • Phật Giáo Và Địa Lý Phong Thủy

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảo Ngọc Thư (Địa Lý Phong Thủy)
  • Bảo Ngọc Thư (Phần 1)
  • Tài Liệu Chuyện Địa Lý Phong Thủy: Cây Thước Lỗ Ban Pptx
  • Chuyện Địa Lý Phong Thủy Cây Thước Lỗ Ban
  • Tổng Hợp Các Sách Nghiên Cứu Phong Thủy Địa Lý
  • Đối với vạn vật trong cõi nhân gian, Phật giáo đều có sự quan sát thấu đáo, hiểu rõ thiên có thiên lý, địa có địa lý, nhân có nhân lý, vật có vật lý, tình có tình lý, tâm có tâm lý. Trên thế gian bất kỳ sự vật gì cũng có cái “lý” riêng biệt của nó, địa lý phong thủy tất nhiên cũng có “nguyên lý” của nó.

    Địa lý là dựa vào địa hình và phương vị thiên thể mà sinh ra tầm ảnh hưởng đối với con người, đây là thường thức của tự nhiên; thuận với lẽ tự nhiên có thể thu được thời cơ thuận lợi, đạt được địa thế cực tốt của non sông; trái với tự nhiên, sẽ có kết quả ngược lại.

    Mưu cầu cuộc sống bình an, mong mỏi xa lìa những muộn phiền âu lo, xưa nay đều như vậy. Nhưng mà, thái độ của người bình thường, đối với các sự vật không hiểu, không biết, không thể nhìn thấy, thường mù quáng mò mẫm suy đoán chủ quan, gán ghép méo mó, thậm chí mê hoặc tin nó, vì vậy dễ dàng bị mê tín thần quyền điều khiển, khống chế. Người Trung Quốc từ xưa đến nay tin tưởng một cách tuyệt đối vào thuyết “địa lý phong thủy có thể ảnh hưởng tới phúc họa của một đời người”, là một ví dụ.

    Địa lý phong thủy cố nhiên có nguyên lý của nó, song không phải là chân lý rốt ráo. Đứng ở góc độ của thuyết Nghiệp lực và thuyết Nhân quả trong giáo lý của Đức Phật để xem xét, ta thấy rằng lành dữ họa phúc, đều là do nghiệp nhân thiện ác của kiếp quá khứ tạo thành quả báo của đời nay, vốn không phải chịu tác động chi phối hay thao túng của phong thủy địa lý.

    Hơn nữa, dưới cái nhìn thời-không của Phật giáo, người học Phật biết rằng hư không vốn không có phương vị tuyệt đối, ví như hai người là A và B ngồi đối diện nhau, bên phải của A là bên trái của B, phía trước của B là phía sau của A, trong thời-không vô biên, không ranh giới, sinh mệnh thật sự của chúng ta là đang ở khắp mọi nơi, không chỗ nào không có mặt, làm gì có chuyện phân chia phương vị thời-không?

    Khi một người có thể giác ngộ để thể chứng được bản lai diện mục của chính mình, thì bản thể tự tâm liền biến khắp hư không, tràn ngập pháp giới, ngang khắp mười phương, dọc cùng ba đời, dung hòa thành nhất thể với thời-không vô hạn, vì vậy phương vị không ở chỗ khác, mà là ở ngay trong tâm của mỗi chúng ta.

    Thời đại Đức Phật, trong Bà-la-môn-giáo thuộc xứ Ấn Độ, có thuyết “sáng sớm tắm rửa, kính lễ sáu phương, có thể tăng thêm tuổi thọ và của cải”. Lúc bấy giờ, Thiện Sanh – con của một vị trưởng giả ở thành Vương Xá, mỗi sáng sớm sau khi tắm rửa xong, liền y vào pháp của Bà-la-môn hướng về sáu phương lễ bái. Đức Phật nói với ông ta rằng: Sáu phương (đông, nam, tây, bắc, thượng, và hạ) có thể phối hợp với cha mẹ, thầy cô, vợ chồng, gia tộc, đầy tớ, Sa môn (Srmaṇa) Bà- la-môn…; tiếp đó, Ngài thuyết về năm pháp cung kính mà mỗi một con người tùy theo phương vị của mình đều phải tuân giữ khi đối xử với người khác tùy theo phương vị của họ, điều đã được nêu trong kinh Thiện Sanh.

    Đức Phật mượn năm việc này hướng dẫn cho tín chúng cách giao tiếp, ứng xử đúng với đạo đức luân lý gia đình; đồng thời qua đấy cho biết phong thủy, địa lý cần phải xây dựng trên luân lý, thế lý, pháp lý, và cả tâm lý; chỉ cần chúng ta thành tâm, cõi lòng thanh thản, thì “mỗi ngày đều là ngày đẹp, khắp nơi đều là nơi đẹp”, cho dù đi khắp thiên hạ, đều là địa lợi nhân hòa, lương thần cát nhật (ưu thế về địa lý được lòng người, ngày lành tháng tốt), bởi vì tất cả phước điền đều không rời xa tâm địa.

    Phật giáo là một tôn giáo trí tín, tất cả giáo lý Phật giáo như Nghiệp lực, Nhân quả, Tam pháp ấn, Tứ diệu đế, Bát thánh đạo, Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, đều có mục đích chung là nhằm khai mở trí tuệ của chúng sinh, giúp đỡ chúng sinh nhận thức đúng bản chất của thực tướng nhân sinh, từ đó đi đến giải quyết các phiền não khổ đau, đạt được giải thoát tự tại, sao có thể mê tín dị đoan địa lý phong thủy, chỉ tăng thêm phiền não, vọng niệm và si mê mà thôi.

    Trong kinh Di giáo, Đức Phật khuyên răn đệ tử rằng: ” Coi tướng lành dữ, tính tử vi, suy luận hão huyền, coi bói tính số; những việc coi ngày giờ tốt xấu như thế này đều không nên làm“. Luận Đại trí độ quyển 3 nói: ” Người xuất gia lấy thuật xem tinh tú, nhật nguyệt phong vũ… để tồn tại, là cầu miếng ăn ” là một trong những cách mưu sinh không chính đáng mà Đức Phật khuyến cáo người xuất gia cần phải tránh xa. “Coi tướng lành dữ” chính là một trong “ngũ tà mệnh” (năm cách kiếm sống không chính đáng), người con Phật nên lấy đó làm lời cảnh tỉnh, nhắc nhở cho chính bản thân mình.

    Phật giáo cho rằng “mọi người đều có Phật tính”, chính là muốn chúng ta nhận thức chính mình, khẳng định chính mình, và tin tưởng vào chính mình, từ đây làm chủ nhân của chính mình. Vì thế, chỗ tốt lớn nhất trong việc học Phật, chính là làm cho chúng ta vượt thoát ra ngoài sự mê tín dị đoan thần quyền, không chịu sự chi phối của địa lý phong thủy, trả lại cho chính mình một đời sống tự do tự chủ.

    Điều mà thầy phong thủy Trung Quốc nghĩ rằng địa lý tốt nhất phải là “phía trước có chim Chu tước, phía sau có chim Huyền vũ, bên trái có rồng cuộn, bên phải có hổ chầu” (tiền Chu tước, hậu Huyền vũ, tả long bàn, hữu hổ cứ), thực ra chính là “trước có phong cảnh, sau có núi cao, bên trái có dòng sông, bên phải có thông lộ”. Lấy điều kiện sinh hoạt tốt nhất trong môi trường sống hiện đại mà nói, có thể tóm tắt bốn điểm sau đây:

    1. Phải có hệ thống thông gió, xung quanh bốn hướng, thông thoáng không bị cản trở;

    2. Phải có ánh sáng mặt trời, ánh sáng tự nhiên, ấm áp, sạch sẽ;

    3. Phải có khoảng trống để ngắm nhìn, mênh mông bát ngát, cõi lòng siêu thoát;

    4. Phải có thông lộ, ra vào dễ dàng, ta người đều thấy tiện lợi.

    Nói tóm, chỉ cần có thể tiện lợi cho sinh hoạt, trong cõi lòng vui vẻ thoải mái, đấy chính là địa lý phong thủy tuyệt vời nhất.

    Phật giáo cho rằng bên ngoài nếu có được địa lý môi trường chung quanh tốt đẹp, cố nhiên là điều rất tốt lành, nhưng quan trọng hơn cả là nội tâm cũng phải có địa lý phong thủy tốt đẹp. Nghĩa là nội tâm bên trong có: thông gió tốt – dòng suy nghĩ thông suốt; ánh nắng tốt – nhiệt tâm cởi mở; tầm nhìn tốt – nhìn về tương lai; con đường tốt – Bồ đề chánh đạo, đây chính là “long huyệt” tốt đẹp nhất, cao vời nhất của nội tâm bên trong.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Khoa Học Của Ngành Địa Lý Phong Thủy Học Đông Phương
  • Phong Thủy Qua Các Đời Vua Việt Nam
  • Ông Tổ Phong Thủy Địa Lý Việt Nam
  • Ông Tổ Địa Lý Phong Thủy Việt Nam
  • Cây Sống Đời Phong Thủy Có Ý Nghĩa Thế Nào Với Bạn?
  • Ông Tổ Phong Thủy Địa Lý Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phong Thủy Qua Các Đời Vua Việt Nam
  • Bản Chất Khoa Học Của Ngành Địa Lý Phong Thủy Học Đông Phương
  • Phật Giáo Và Địa Lý Phong Thủy
  • Bảo Ngọc Thư (Địa Lý Phong Thủy)
  • Bảo Ngọc Thư (Phần 1)
  • Đền thờ của ông được lập ở nhiều nơi, có cả bên Trung Quốc; sách của ông được nhiều thế hệ thầy địa lý sau này “ăn theo”… Thế nhưng tại sao Tả Ao lại không truyền “nghề” cho hậu duệ? Tả Ao chỉ là tên địa danh? Ông là thủy tổ khai sinh môn địa lý phong thủy Việt Nam . Các sách vở cũng như truyền thuyết đều gọi ông là Thánh Địa lý Tả Ao, Trạng Tả Ao; là đệ nhất chính tông về địa lý, giỏi như Cao Biền bên Trung Quốc.Trong dân gian lưu truyền nhiều giai thoại về hành trạng pháp thuật của ông ở nhiều làng quê.

    Ở thôn Nam Trì, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên có đền thờ 3 thượng đẳng phúc thần: Tể tướng Lữ Gia (Bảo Công), tướng Nguyễn Danh Lang (Lang Công) và Cao Biền (Cao Vương) và Bản cảnh thành hoàng Tả Ao. Bởi nơi đây Tả Ao đã chọn đất lập làng để làng thịnh vượng và phát triển. Tại sao ngài lại giỏi địa lý như vậy? Có 2 nguồn truyền miệng về việc Tả Ao tầm sư học đạo nên nggười. Một truyền thuyết kể rằng, Tả Ao cứu một thầy địa lý người Trung Quốc chết đuối ở sông Phù Thạch xứ Nghệ. Ông ta đem vàng bạc trả ơn, ngài không lấy. Thấy ngài tướng mạo khôi ngô và tính tình hiền hòa, ông ta đưa về Tàu truyền nghề địa lý để trả ơn. Do thông minh nên ngài thu thập được những tinh hoa trong thuật phong thủy địa lý của người thầy, về nước rồi hành trạng pháp thuật. Một giả thuyết thứ hai nói rằng, do mẹ của ngài mù lòa, nhà lại nghèo, để có thuốc chữa mắt cho mẹ, ngài đã ở không công cho người khách ngồi bốc thuốc ở Phù Thạch. Thấy ngài là người con hiếu thảo, lại ăn ở chu đáo, hiền lành, nên khi về nước, ông ta xin cho ngài đi theo. Ở đây ngài học lỏm được nghề cắt thuốc chữa mắt. Có lần ngài đã chữa khỏi mắt cho một thầy địa lý lành nghề, thấy tướng mạo tuấn tú, tính cách nhanh nhẹn hợp với nghề của thầy và cũng để trả ơn, ông xin phép thầy lang đưa ngài về nhà để truyền thuật địa lý. Do bản tính thông minh ngài đã thâu tóm được phép thuật đó về nước. Giả thuyết này về sau được người đời tin là thật hơn vì cách lí giải trọn vẹn tình hiếu thảo với mẹ (sách nào viết về ngài cũng nói có người mẹ mù lòa), hợp với hoàn cảnh nhà nghèo, nhưng lại là người thông minh, có chí học hỏi nên thành tài. Cái tài của thầy địa lý Tả Ao có bao câu chuyện hấp dẫn có trong sách vở cũng như truyền miệng dân gian, ta có thể tìm đọc hay nghe kể với các biệt tài: Xem thế đất để chọn hướng nhà thỏa mãn yêu cầu của thân chủ như sống thọ, phát tài phát lộc, phát quan, chọn nghề, sinh lắm con nhiều cháu; Chọn hướng táng mồ mả sao cho người sống được mạnh khỏe, giàu có, thành đạt; Chọn nơi đào giếng có nước lành, trong ngon, không cạn, không chạm long mạch; Chọn hướng đình để làng yên ấm trong ngoài, dân cư phát triển… Câu chuyện khẳng định cái tài địa lý của Tả Ao nhưng cũng lắm kết cục khôi hài (chứ không làm hại ai) nếu thân chủ, các chức sắc trong làng xã có những ý tưởng ngông cuồng… Nhưng sao không truyền cho hậu duệ? Tả Ao nổi tiếng bậc thầy về địa lý phong thủy, nhưng con cháu của ngài về sau thì không ai kế nghiệp được.

    Xung quanh câu chuyện này cũng có nhiều “dị bản” lí giải khác nhau. Có chuyện kể rằng, Tả Ao bị thầy địa lý (người dạy ngài) sang yểm huyệt táng cha của ngài nên không thể truyền nghề cho hậu duệ. Có truyện chép là một đêm nằm mộng, ngài được báo rằng “đất tốt là của quý, là bí mật của tạo hóa, nếu tiết lộ hết thì “âm” sẽ oán, nên phải tự dấu kín phép thuật”. Cũng có ý kiến cho rằng, Tả Ao có con nhưng các con bất hạnh, làm ông nản. Sau này thi thoảng mới xem phong thủy địa lý cho người khác (cũng ở mức bình thường), ông dành thời gian để chữa mắt cho dân. Tuy vậy, với 2 tập sách mỏng Tả Ao đã để lại cho đời như: Địa đạo diễn ca (chỉ 120 câu), Dã đàm (trong mấy trang văn xuôi) đã được người đời sau phát triển thành lý luận, thành gia bảo chân truyền. Trừ 2 cuốn nói trên, còn những sách khác hiểu lấp lửng là do ngài viết như: Địa đạo diễn ca (Tả Ao hiệu Địa Tiên); Dã Đàm (Tả Ao hiệu Địa Tiên) còn gọi Tả Ao tầm long gia truyền bảo đàm; Tả Ao chân truyền di thư; Tả Ao chân truyền địa lý (Hoàng Chiêm – 5 tập); Hoàng Chiêm địa lý luận; Hoàng Chiêm truyền cơ mật giáo; Tả Ao tiên sư bí truyền gia bảo trân tàng; Tả Ao địa lý luận; Tả Ao chân truyền tập (nhiều tập); Tả Ao tiên sinh bí truyền gia bảo trân tàng (nhiều tập); Tả Ao tiên sinh địa lý (nhiều tập)… Trừ 2 cuốn đầu là của Tả Ao, còn các cuốn sau là của các thầy địa lý khác phát triển về thuật địa lý Tả Ao. Với ngài, ngài không tự xưng là tiên sư, tiên sinh. Hay chân truyền, bí truyền, gia bảo vì không hợp với phong cách và hoàn cảnh của ngài.

    Với hiệu trong đền thờ Tả Ao là Địa Tiên (còn hiệu của Nguyễn Đức Huyền là Phủ Hưng). Hầu như các sách đều viết : “Tả Ao tên là Vũ Đức Huyền hiệu Địa Tiên, có nơi còn gọi là Nguyễn Đức Huyền…”. Trong cuốn Nghi Xuân địa chí do Đông Hồ – Lê Văn Diễn soạn năm 1842 cũng viết vậy. Cuốn Từ điển Hà Tĩnh ngoài mục Tả Ao cũng ghi như vậy, còn có mục Vũ Đức Huyền, nhưng không có mục Nguyễn Đức Huyền. Vậy ta dễ chấp nhận Thánh sư địa lý Tả Ao xưa còn gọi là Mỗ (một cách gọi dân dã), tên là Vũ Đức Huyền hiệu Địa Tiên. Sinh vào thời Lê sơ (1428 – 1527). Gốc người Sơn Nam (vùng Hải Dương, Hưng Yên), gia đình phiêu bạt và định cư ở làng Tả Ao nay thuộc xã Xuân Giang huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Có đền thờ Tả Ao, giếng Tả Ao nằm trong khuôn viên của cụm đền huyện Nghi Xuân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ông Tổ Địa Lý Phong Thủy Việt Nam
  • Cây Sống Đời Phong Thủy Có Ý Nghĩa Thế Nào Với Bạn?
  • Ý Nghĩa Và Tác Dụng Của Cây Sống Đời Trong Phong Thủy
  • Mẹo Phong Thủy Thúc Đẩy Tình Cảm, Hôn Nhân Cho 12 Con Giáp
  • Vai Trò Của Phong Thủy Đối Với Đời Sống Của Con Người
  • Ông Tổ Địa Lý Phong Thủy Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ông Tổ Phong Thủy Địa Lý Việt Nam
  • Phong Thủy Qua Các Đời Vua Việt Nam
  • Bản Chất Khoa Học Của Ngành Địa Lý Phong Thủy Học Đông Phương
  • Phật Giáo Và Địa Lý Phong Thủy
  • Bảo Ngọc Thư (Địa Lý Phong Thủy)
  • Ông tổ địa lý phong thủy Việt Nam

    Đền thờ của ông được lập ở nhiều nơi, có cả bên Trung Quốc; sách của ông được nhiều thế hệ thầy địa lý sau này “ăn theo”… Thế nhưng tại sao Tả Ao lại không truyền “nghề” cho hậu duệ? Tả Ao chỉ là tên địa danh? Ông là thủy tổ khai sinh môn địa lý phong thủy Việt Nam. Các sách vở cũng như truyền thuyết đều gọi ông là Thánh Địa lý Tả Ao, Trạng Tả Ao; là đệ nhất chính tông về địa lý, giỏi như Cao Biền bên Trung Quốc.Trong dân gian lưu truyền nhiều giai thoại về hành trạng pháp thuật của ông ở nhiều làng quê.

    Ở thôn Nam Trì, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên có đền thờ 3 thượng đẳng phúc thần: Tể tướng Lữ Gia (Bảo Công), tướng Nguyễn Danh Lang (Lang Công) và Cao Biền (Cao Vương) và Bản cảnh thành hoàng Tả Ao. Bởi nơi đây Tả Ao đã chọn đất lập làng để làng thịnh vượng và phát triển. Tại sao ngài lại giỏi địa lý như vậy? Có 2 nguồn truyền miệng về việc Tả Ao tầm sư học đạo nên nggười. Một truyền thuyết kể rằng, Tả Ao cứu một thầy địa lý người Trung Quốc chết đuối ở sông Phù Thạch xứ Nghệ. Ông ta đem vàng bạc trả ơn, ngài không lấy. Thấy ngài tướng mạo khôi ngô và tính tình hiền hòa, ông ta đưa về Tàu truyền nghề địa lý để trả ơn. Do thông minh nên ngài thu thập được những tinh hoa trong thuật phong thủy địa lý của người thầy, về nước rồi hành trạng pháp thuật. Một giả thuyết thứ hai nói rằng, do mẹ của ngài mù lòa, nhà lại nghèo, để có thuốc chữa mắt cho mẹ, ngài đã ở không công cho người khách ngồi bốc thuốc ở Phù Thạch. Thấy ngài là người con hiếu thảo, lại ăn ở chu đáo, hiền lành, nên khi về nước, ông ta xin cho ngài đi theo. Ở đây ngài học lỏm được nghề cắt thuốc chữa mắt. Có lần ngài đã chữa khỏi mắt cho một thầy địa lý lành nghề, thấy tướng mạo tuấn tú, tính cách nhanh nhẹn hợp với nghề của thầy và cũng để trả ơn, ông xin phép thầy lang đưa ngài về nhà để truyền thuật địa lý. Do bản tính thông minh ngài đã thâu tóm được phép thuật đó về nước. Giả thuyết này về sau được người đời tin là thật hơn vì cách lí giải trọn vẹn tình hiếu thảo với mẹ (sách nào viết về ngài cũng nói có người mẹ mù lòa), hợp với hoàn cảnh nhà nghèo, nhưng lại là người thông minh, có chí học hỏi nên thành tài. Cái tài của thầy địa lý Tả Ao có bao câu chuyện hấp dẫn có trong sách vở cũng như truyền miệng dân gian, ta có thể tìm đọc hay nghe kể với các biệt tài: Xem thế đất để chọn hướng nhà thỏa mãn yêu cầu của thân chủ như sống thọ, phát tài phát lộc, phát quan, chọn nghề, sinh lắm con nhiều cháu; Chọn hướng táng mồ mả sao cho người sống được mạnh khỏe, giàu có, thành đạt; Chọn nơi đào giếng có nước lành, trong ngon, không cạn, không chạm long mạch; Chọn hướng đình để làng yên ấm trong ngoài, dân cư phát triển… Câu chuyện khẳng định cái tài địa lý của Tả Ao nhưng cũng lắm kết cục khôi hài (chứ không làm hại ai) nếu thân chủ, các chức sắc trong làng xã có những ý tưởng ngông cuồng… Nhưng sao không truyền cho hậu duệ? Tả Ao nổi tiếng bậc thầy về địa lý phong thủy, nhưng con cháu của ngài về sau thì không ai kế nghiệp được.

    Xung quanh câu chuyện này cũng có nhiều “dị bản” lí giải khác nhau. Có chuyện kể rằng, Tả Ao bị thầy địa lý (người dạy ngài) sang yểm huyệt táng cha của ngài nên không thể truyền nghề cho hậu duệ. Có truyện chép là một đêm nằm mộng, ngài được báo rằng “đất tốt là của quý, là bí mật của tạo hóa, nếu tiết lộ hết thì “âm” sẽ oán, nên phải tự dấu kín phép thuật”. Cũng có ý kiến cho rằng, Tả Ao có con nhưng các con bất hạnh, làm ông nản. Sau này thi thoảng mới xem phong thủy địa lý cho người khác (cũng ở mức bình thường), ông dành thời gian để chữa mắt cho dân. Tuy vậy, với 2 tập sách mỏng Tả Ao đã để lại cho đời như: Địa đạo diễn ca (chỉ 120 câu), Dã đàm (trong mấy trang văn xuôi) đã được người đời sau phát triển thành lý luận, thành gia bảo chân truyền. Trừ 2 cuốn nói trên, còn những sách khác hiểu lấp lửng là do ngài viết như: Địa đạo diễn ca (Tả Ao hiệu Địa Tiên); Dã Đàm (Tả Ao hiệu Địa Tiên) còn gọi Tả Ao tầm long gia truyền bảo đàm; Tả Ao chân truyền di thư; Tả Ao chân truyền địa lý (Hoàng Chiêm – 5 tập); Hoàng Chiêm địa lý luận; Hoàng Chiêm truyền cơ mật giáo; Tả Ao tiên sư bí truyền gia bảo trân tàng; Tả Ao địa lý luận; Tả Ao chân truyền tập (nhiều tập); Tả Ao tiên sinh bí truyền gia bảo trân tàng (nhiều tập); Tả Ao tiên sinh địa lý (nhiều tập)… Trừ 2 cuốn đầu là của Tả Ao, còn các cuốn sau là của các thầy địa lý khác phát triển về thuật địa lý Tả Ao. Với ngài, ngài không tự xưng là tiên sư, tiên sinh. Hay chân truyền, bí truyền, gia bảo vì không hợp với phong cách và hoàn cảnh của ngài.

    Với hiệu trong đền thờ Tả Ao là Địa Tiên (còn hiệu của Nguyễn Đức Huyền là Phủ Hưng). Hầu như các sách đều viết : “Tả Ao tên là Vũ Đức Huyền hiệu Địa Tiên, có nơi còn gọi là Nguyễn Đức Huyền…”. Trong cuốn Nghi Xuân địa chí do Đông Hồ – Lê Văn Diễn soạn năm 1842 cũng viết vậy. Cuốn Từ điển Hà Tĩnh ngoài mục Tả Ao cũng ghi như vậy, còn có mục Vũ Đức Huyền, nhưng không có mục Nguyễn Đức Huyền. Vậy ta dễ chấp nhận Thánh sư địa lý Tả Ao xưa còn gọi là Mỗ (một cách gọi dân dã), tên là Vũ Đức Huyền hiệu Địa Tiên. Sinh vào thời Lê sơ (1428 – 1527). Gốc người Sơn Nam (vùng Hải Dương, Hưng Yên), gia đình phiêu bạt và định cư ở làng Tả Ao nay thuộc xã Xuân Giang huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Có đền thờ Tả Ao, giếng Tả Ao nằm trong khuôn viên của cụm đền huyện Nghi Xuân.

    BTV – nha xinh

    Nguồn giadinh.net

    Hiện nay, nhiều công ty đang sử dụng trái phép tên thương hiệu công ty Nhà Xinh – Trong lĩnh vực Kiến Trúc Nội Thất nhằm mục đích gây nhầm lẫn cho khách hàng khi có nhu cầu thiết kế – thi công xây dựng gây ảnh hưởng đến thương hiệu Công Ty Nhà Xinh cũng như quyền lợi của khách hàng. Kính mong quý khách hàng lưu ý để tránh nhầm lẫn. Công Ty Nhà Xinh – là thương hiệu hàng đầu về thiết kế thi công nhà ở cao cấp tại Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cây Sống Đời Phong Thủy Có Ý Nghĩa Thế Nào Với Bạn?
  • Ý Nghĩa Và Tác Dụng Của Cây Sống Đời Trong Phong Thủy
  • Mẹo Phong Thủy Thúc Đẩy Tình Cảm, Hôn Nhân Cho 12 Con Giáp
  • Vai Trò Của Phong Thủy Đối Với Đời Sống Của Con Người
  • Vai Trò Của Phong Thủy Với Đời Sống Con Người
  • Những Ông Tổ Của Môn Địa Lý

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Thiết Kế Cảnh Quan Sân Vườn Hợp Phong Thủy
  • Nguyên Tắc Bố Trí Sân Vườn Theo Phong Thủy
  • Bố Trí Sân Vườn Hợp Lý Theo Phong Thủy
  • Địa Chỉ Bán Đồ Phong Thủy Ở Tphcm Được Khách Hàng Tin Tưởng
  • Top 6 Địa Chỉ Bán Vòng Đá Phong Thủy Uy Tín Nhất Tại Tphcm 2022
  • Nước ta là một quốc gia ở khu vực nhiệt đới gió mùa.Thiên nhiên có nhiều phần ưu đãi, nhưng thời tiết thường diễn biến một cách bất thường “sớm ngăn bão giông, chiều ngăn nắng lửa”. Hay như nhà thơ Trần Đăng Khoa từng viết:

    “Những trưa tháng sáu Nước như ai nấu Chết cả cá cờ Cua ngoi lên bờ Mẹ em xuống cấy…”

    Đứng trước những thực trạng đầy cam go, khắc nhiệt của tự nhiên, con người có yêu cầu bức thiết về nơi ở, an toàn, đảm bảo về sức khỏe cả về thể chất và tinh thần, để quá trình sinh hoạt, lao động sản xuất, học tập nghiên cứu, đạt hiệu quả cao nhất. Và môn khoa học phong thủy đã ra đời, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đó

    Phong thủy là gì? Theo nghĩa chiết tự thì “phong” có nghĩa là gió, là những luồng không khí chuyển động trong không gian, có tác động ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống con người. “Thủy” là chế độ nước, bao gồm cả mạch nước ngầm, và hệ thống nước lộ, như sông, suối, ao, hồ.Như vậy bộ môn này không có gì cao siêu thần bí, ngược lại nó rất gần gũi và có giá trị thực tiễn lớn lao trong cuộc sống con người, xã hội.

    Định nghĩa một cách đầy đủ thì phong thủy là toàn bộ hệ thống lý luận về đặc điểm địa hình, các nhân tố môi trường (hướng gió, chế độ nước, núi non,…)và quá trình tác động qua lại giữa chúng và cuộc sống con người (sức khỏe, cát – hung, thịnh – suy của người sống trên đó ), phong thủy còn phương pháp lựa chọn, thiết kế xây dựng nhà ở và âm phần.

    Phong thủy âm trạch luận đoán về vấn đề âm phần, mộ của người đã khuất đối với các thành viên khác trong gia đình

    Phong thủy dương trạch bao gồm các công trình kiến trúc nhà ở, biệt thự, văn phòng, thị trấn, thị tứ, trung tâm thương mại…

    Phong thủy ra đời từ rất lâu rồi, với đặc điểm của nền văn minh nông nghiệp “dĩ nông vi bản”, thì việc lựa chọn nơi ở tiện cho việc sinh hoạt và sản xuất đã có từ rất lâu. Ở Trung Quốc từ thời kỳ cổ đại Hạ – Thương – Tây Chu, phong thủy đã manh nha, mầm mống. Bộ môn này được các bậc học giả, hệ thống hóa, khái quát hóa, thành hệ thống lý luận cơ bản, và các thế hệ về sau nghiên cứu phát triển thêm học thuyết này.

    Ở Trung Hoa người đầu tiên có công trong bộ môn khoa học này là Quản Lộ, ông sống vào thời kỳ Tam quốc (184 – 280 sau CN). Quản Lộ tự là Công Minh, là người Bình Nguyên, nay thuộc tỉnh Sơn Đông, ông là người dung mạo thô xấu, gọi là dị tướng, tính khí lông bông, ham rượu. Quản Lộ xuất thân trong một gia đình trí thức nhỏ thời bấy giờ. Khi còn nhỏ, ông là người ham tìm hiểu khám phá về thiên văn, địa lý phong thủy. Lúc trưởng thành ông tinh thông Dịch lý huyền cơ, nổi tiếng dự đoán, ứng nghiệm như thần. Có lần, Quản Lộ còn đoán số cho Tào Tháo.

    Về phong thủy – địa lý, ông giỏi cả về âm trạch lẫn dương trạch. Tác phẩm của ông về môn khoa học này là “Quản Thị địa lý chỉ mông”, gồm 10 cuốn, 100 thiên, nội dung rất sâu sắc, huyền bí

    Quách Phác đời Tấn tự là Cảnh Đôn, sinh ra tại Hà Đông nay thuộc tỉnh Sơn Tây. Ông sống vào thời Tấn (276 – 324). Sách Thái Bình quảng ký viết về ông: “Quách Phác hiểu biết bao la, biết thiên văn, địa lý, quy thủ long đồ, hào tượng sấm vĩ, bói dịch bằng mai rùa, cỏ thi, lời sấm ngữ, đặt mộ,chọn đất ở… không gì là không tinh thông”. Ông để lại hai cuốn tài liệu “Táng thư” (âm trạch), “Tướng địa thuật” (Dương trạch)

    Dương Quân Tùng đời Đường : tên húy của ông là Ích, tự Thúc Mậu, Quân Tùng là biệt hiệu. Ông sống vào thời nhà Đường (617 – 907), sinh tại Quảng Châu. Dương Tùng Quân từng giữ chức quan trông coi việc xem thiên văn, dự đoán vận mệnh quốc gia, phong thủy địa lý, tế lễ quan trọng trong triều đình. Trước khi Hoàng Sào khởi nghĩ lật đổ triều Đường, ông tiên liệu được việc này và về quê ở ẩn.

    Dương Quân Tùng, soạn sách “Chính long tử kinh”, mở đầu cho học thuyết phong thủy Loan đầu*

    Trải qua mấy thế kỷ loạn lạc, đến đời Tống, Lại Văn Tuấn kế thừa sự nghiệp của các danh sư trước đó. Lại Văn Tuấn tự là Thái Tố, làm quan tại Phúc Kiến. Là một danh gia địa lý – phong thủy

    Trần Đoàn đời Tống, tự là Đồ Nam, hiệu là Hy Di, người An Huy. Ông từng có cơ duyên gặp Vua Tống Thái Tổ, khi còn nhỏ, được mẹ đưa đi chạy loạn. Sinh thời được chứng kiến Vua Tống gây dựng cơ nghiệp thái bình. Ông tinh thông dịch lý, âm dương ngũ hành, tò tường vạn sự, là tổ sư môn Tử vi đẩu số, Hà lạc bát tự, về phong thủy, ông cũng có đóng góp lớn lao, học thuyết của ông ứng dụng nhuần nhuyễn Kinh dịch vào phong thủy, từ khí suy ra lý

    Lưu Cơ đời Minh tự là Bá Ôn. Ông là người Triết Giang. Lưu Cơ là quân sư xuất sắc giúp vua Thái Tổ Chu Nguyên Chương khởi nghĩa nông dân, đánh đuổi, đạp tan ách đô hộ của nhà Nguyên, dựng nên triều Minh (1368 – 1644). Về học thuật, ông soạn sách “Kham dư mạn hứng” nội dung của sách là những điều ông tâm đắc và bí kíp về địa lý phong thủy. Hiện nay tài liệu này vẫn còn được lưu truyền, biên soạn và học tập

    Ở nước ta, phong thủy bắt đầu từ thời Hùng vương dựng nước, Vua Hùng định đô ở Phú Thọ, chọn thế đất có 99 ngọn núi quy tụ,như 99 con voi cùng triều về, vượng khí chói chang, dựng nên cơ nghiệp đế vương truyền tới 18 đời vua

    Đến Vua Thái Tổ Lý Công Uẩn dời kinh đô từ Hoa Lư – Ninh Bình về Đại La năm 1010, mà nay là thủ đô Hà Nội cũng là một quyết định sáng suốt, có tầm nhìn chiến lược về phong thủy…Trong chiếu dời đô Vua viết:

    Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Chu Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại; ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, nhà Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.

    Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.

    Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?” (Trích Chiếu dời đô – Lý Thái Tổ)

    Tả Ao tiên sinh, một người Việt Nam là học trò chân truyền của môn địa lý, phong thủy, là người đặt nền móng và đưa phong thủy nước ta lên một tầm cao mới. Cụ Tả Ao tên thật là Nguyễn Đức Huyên, quê tại làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Cụ sống vào thời Vua Lê – Chúa Trịnh, không rõ năm sinh, năm mất. Sinh thời, cụ xuất thân trong một gia đình nghèo khó, thân mẫu bị bệnh, cụ theo một thầy thuốc Tàu sang Trung Hoa học về y thuật và xin thuốc để trị bệnh cho mẹ. Trong quá trình học tập, cụ chữa khỏi mắt cho một thầy địa lý người Hoa. Thầy địa lý thấy cụ là người chí hiếu, chí tình, tận tâm, trung hậu, đĩnh ngộ hơn người, nên đã đem toàn bộ bí kíp về địa lý – phong thủy truyền lại cho cụ, chỉ sau một năm cụ nhuần nhuyễn, tinh thông môn khoa học này. Sau này về nước cụ vừa dùng y thuật chữa bệnh, khi nào cần thiết thì cụ mới dùng tới môn địa lý phong thủy, tuy nhiên, về phong thủy danh tiếng của cụ lẫy lừng trong nước. Di sản để lại của cụ gồm có sách “Địa đạo diễn ca” và “Dã đàm Tả Ao”, được coi là tài liệu quý hiếm về chuyên ngành địa lý, phong thủy. Ngày nay, sách của cụ vẫn được in ấn, xuất bản, lưu hành, nghiên cứu.

    Cụ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp. tên húy là Minh, tự là Quang Thiếp, cụ sống vào thời Tây Sơn, từng giúp vua Quang Trung trù liệu kế hoạch đuổi quân Thanh xâm lược, lo công việc nội trị, đổi mới về kinh tế, sản xuất, và văn hóa giáo dục. Theo sách Tử vi nghiệm lý của cụ Thiên Lương, thì Phu tử mệnh lập tại Tỵ, đắc Thiên cơ thế vượng, văn tinh hội hợp rất mạnh, nên cụ nổi tiếng thông minh quán chúng, văn chương nổi tiếng. Không những thế, Thiên cơ còn là một sao học thuật, cụ nổi tiếng về nhâm độn và địa lý, phong thủy. Tiếc rằng, các thế hệ sau như chúng ta không được học tập di sản của cụ.

    Cụ Nguyễn Sinh Khiêm – anh trai Hồ Chủ tịch cũng là một nhà phong thủy nổi tiếng. Theo “Búp sen xanh” của Sơn Tùng, “Những người thân trong gia đình Bác Hồ”, thì cụ Nguyễn Sinh Khiêm là một trí thức yêu nước chân chính, xuất thân từ Nho học, cụ được kế thừa và truyền dạy về thuật phong thủy, sinh thời cụ tư vấn, hướng dẫn người khác thiết kế nhà ở, bằng một phương pháp độc đáo và sáng tạo của riêng cụ. Cụ cũng là người có công lao đối với nên phong thủy của dân tộc.

    Giáo sư Vũ Kiêu có viết về thời dựng nước của dân tộc ta:

    “Cuộc mưu sinh vất vả khôn cùng Đường lập nghiệp gian nan xiết kể Nào rừng rậm, đầm lầy, núi thẳm, sông sâu há quản xông pha Nào hổ báo, kình nghê, bão giông, bệnh tật, lấy gì bảo vệ…?”

    Ngày nay, chúng ta sống trong một xã hội thái bình, không còn chiến tranh, nghèo đói đe dọa nữa. Đã xa rồi cái thời kỳ con người không thể làm chủ tự nhiên, luôn luôn bị chi phối, lệ thuộc, và nơm nớp lo sợ. Cuộc sống của chúng ta càng văn minh, nhân ái và hạnh phúc, thì vấn đề xây dựng, thiết kế, các công trình nhà ở, dân sinh, dân sự càng phải khoa học, hợp lý. Và vì lẽ đó, giá trị của phong thủy lại càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn.

    Thủy Lưu sưu tầm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phong Thủy Tổ Sư Dương Quân Tùng (Kỳ 1)
  • Phong Thủy Việt: Khi Nào Thì Cần Phải Cải Tạo Phong Thuỷ ?
  • Phong Thủy Ảnh Hưởng Tối Vận Mệnh Con Người Như Thế Nào
  • Phong Thủy Đại Tướng Sư Chương 24: Lăng Không Vẽ Bùa
  • Pokémon Chi Tính Cách Đại Sư
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100