Sách Phong Thủy Địa Lý / Top 2 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Globalink.edu.vn

Tổng Hợp Các Sách Nghiên Cứu Phong Thủy Địa Lý

LIÊN HỆ: Mr Trung: 0933 60 9119 – Mr Nam: 0984 86 8811

1/ 100 Câu Hỏi Đáp Về Gia Định-Sài Gòn-HCM-Địa Lý Gia Định Sài Gòn- Nguyễn Đình Đầu, 231 chúng tôi 11/ 22/ 38/ 41/ 48/ 53/ 55/ 69/ 71/ 75/ 83/ 84/ 89/ 98/ 101/ 102/ 2/ Bến Nghé Xưa (NXB Văn Nghệ 1981) – Sơn Nam, 170 chúng tôi 3/ Các Tỉnh Thành Năm Xưa-Bạc Liêu Xưa (NXB Thanh Niên 2002) – Huỳnh Minh, 200 chúng tôi 4/ Các Tỉnh Thành Năm Xưa-Cà Mau Xưa (NXB Thanh Niên 2003) – Nghê Văn Lương & Huỳnh Minh, 213 chúng tôi 5/ Các Tỉnh Thành Năm Xưa-Cần Thơ Xưa (NXB Thanh Niên 2001) – Huỳnh Minh, 254 chúng tôi 6/ Các Tỉnh Thành Năm Xưa-Kiến Hòa (Bến Tre) Xưa (NXB Thanh Niên 2001) – Huỳnh Minh, 248 chúng tôi 7/ Các Tỉnh Thành Năm Xưa-Non Nước Khánh Hòa (NXB Thanh Niên 2003) – Nguyễn Đình Tư, 399 chúng tôi 8/ Các Tỉnh Thành Năm Xưa-Non Nước Ninh Thuận (NXB Thanh Niên 2003) – Nguyễn Đình Tư, 301 chúng tôi 9/ Các Tỉnh Thành Năm Xưa-Non Nước Phú Yên (NXB Thanh Niên 2004) – Nguyễn Đình Tư, 217 chúng tôi 10/ Các Tỉnh Thành Năm Xưa-Non Nước Xứ Quảng (NXB Thanh Niên 2003) – Phạm Trung Việt & Huỳnh Minh, 297 chúng tôi

12/ Các Tỉnh Thành Năm Xưa-Tây Ninh Xưa (NXB Thanh Niên 2001) – Huỳnh Minh, 340 chúng tôi 13/ Các Tỉnh Thành Năm Xưa-Vĩnh Long Xưa (NXB Thanh Niên 2002) – Huỳnh Minh, 372 chúng tôi 14/ Các Tỉnh Thành Năm Xưa-Vũng Tàu Xưa (NXB Thanh Niên 2001) – Huỳnh Minh, 252 chúng tôi 15/ Các Tỉnh Thành Năm Xưa-Định Tường Xưa (Mỹ Tho) – Huỳnh Minh, 287 chúng tôi Các Tỉnh Thành Năm Xưa-Tân Châu Xưa (NXB Thanh Niên 2003) – Nguyễn Văn Kiềm & Huỳnh Minh, 418 chúng tôi 16/ Cách Đo Ruộng Và Cách Lập Bản Đồ (NXB Hà Nội 1925) – A. Bouchet, 48 chúng tôi 17/ Cơ Sở Hệ Thống Thông Tin Địa Lý GIS Trong Quy Hoạch Và Quản Lý Đô Thị – Phạm Trọng Mạnh, 172 chúng tôi 18/ Cảnh Quan Địa Lý Miền Bắc Việt Nam – Vũ Tự Lập, 254 chúng tôi 19/ Giáo Trình Quy Hoạch Quản Trị Đất Đai – Lê Quang Trí, 191 chúng tôi 20/ Giáo Trình Thực Tập Môn Hệ Thống Thông Tin Địa Lý – Võ Quang Minh & Nguyễn Hồng Điệp, 41 chúng tôi 21/ Giáo Trình Thực Tập Đánh Giá Đất Đai – Nhiều Tác Giả, 52 chúng tôi

23/ Hoàng Sa Trường Sa Lãnh Thổ Việt Nam – Nguyễn Q. Thắng, 388 chúng tôi 24/ Hoàng Sa, Trường Sa Là Của Việt Nam (NXB Trẻ 2008) – Nguyễn Nhã & Lê Minh Nghĩa, 148 chúng tôi 25/ Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (NXB Thuận Hóa 2005) – Lê Quang Định, 1849 chúng tôi 26/ Hà Đông Tỉnh Địa Dư Chí (NXB Hà Nội 1925) – J. Rouan, 88 chúng tôi 27/ Kỷ Yếu Hội Thảo Khoa Học-Lịch Sử Hình Thành Vùng Đất An Giang (NXB An Giang 2000) -Tỉnh Ủy An Giang, 87 chúng tôi 28/ Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum – Nhiều Tác Giả, 71 chúng tôi 29/ Lịch Sử Địa Cầu (NXB Việt Khoa 1971) – Trần Kim Thạch, 95 chúng tôi 30/ Một số địa danh gốc Khmer ở Sóc Trăng – Khoa chúng tôi 31/ Nam Định Tỉnh Địa Dư Chí Mục Lục (NXB Nam Định 1997) – Nguyễn On Ngọc, 113 chúng tôi Hoàng Sa Lãnh Thổ Việt Nam Cộng Hòa (NXB Sài Gòn 1974) – Nhiều Tác Giả, 96 chúng tôi 32/ Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn-An Giang (NXB Tổng Hợp 1995) – Nguyễn Đình Đầu, 401 chúng tôi 33/ Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn-Biên Hòa (NXB Tổng Hợp 1994) – Nguyễn Đình Đầu, 422 chúng tôi 34/ Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn-Bình Thuận (NXB Tổng Hợp 1996) – Nguyễn Đình Đầu, 433 chúng tôi 35/ Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn-Bình Định 1 (NXB Tổng Hợp 1996) – Nguyễn Đình Đầu, 538 chúng tôi 36/ Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn-Bình Định 2 (NXB Tổng Hợp 1996) – Nguyễn Đình Đầu, 418 chúng tôi 37/ Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn-Bình Định 3 (NXB Tổng Hợp 1996) – Nguyễn Đình Đầu, 392 chúng tôi

39/ Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn-Hà Tiên (NXB Tổng Hợp 1994) – Nguyễn Đình Đầu, 333 chúng tôi 40/ Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn-Khánh Hòa (NXB Tổng Hợp 1997) – Nguyễn Đình Đầu, 318 chúng tôi

42/ Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn-Phú Yên (NXB Tổng Hợp 1997) – Nguyễn Đình Đầu, 335 chúng tôi 43/ Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn-Thừa Thiên (NXB Tổng Hợp 1996) – Nguyễn Đình Đầu, 361 chúng tôi 44/ Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn-Vĩnh Long (NXB Tổng Hợp 1994) – Nguyễn Đình Đầu, 444 chúng tôi 45/ Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn-Định Tường (NXB Tổng Hợp 1994) – Nguyễn Đình Đầu, 372 chúng tôi 46/ Nguồn Gốc Địa Danh Sài Gòn – Bình Nguyên Lộc.prc 47/ Ninh Bình Toàn Tỉnh Địa Chí Khảo Biên (NXB Chính Trị 2001) – Nguyễn Tử Mẫn, 62 chúng tôi

49/ Sài Gòn Xưa Và Nay (NXB Trẻ 2007) – Nhiều Tác Giả, 306 chúng tôi 50/ Sách Dư Địa Chí Có Bản Đồ (NXB Qui Nhơn 1926) – Nhiều Tác Giả, 48 chúng tôi 51/ Sơn Tây Tỉnh Địa Chí (NXB Du Nord 1941) – Phạm Xuân Độ, 291 chúng tôi 52/ Sơn Tây Tỉnh Địa Chí (NXB Hà Nội 1941) – Phạm Xuân Độ, 291 chúng tôi

54/ Trà Lũ Xã Chí (NXB Nam Định 1997) – Lê Văn Nhưng, 37 chúng tôi Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn-Gia Định (NXB Tổng Hợp 1994) – Nguyễn Đình Đầu, 634 chúng tôi 56/ Tân An Ngày Xưa (Phủ Quốc Vụ Khanh 1972) – Đào Văn Hội, 59 chúng tôi 57/ Tân Biên Nam Định Tỉnh Địa Dư Chí Lược (NXB Nam Định 2000) – Dương Văn Vượng, 168 chúng tôi 58/ Tìm Hiểu Về Đất Hậu Giang (NXB Phù Sa 1959) – Sơn Nam, 137 Trang .pdf 59/ Tập Bản Đồ Hành Chính 64 Tỉnh, Thành Phố Việt Nam (NXB Bản Đồ 2005) – Ts. Lê Phước Dũng, 122 chúng tôi Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn-Nam Kỳ Lục Tỉnh (NXB Tổng Hợp 1994) – Nguyễn Đình Đầu, 347 chúng tôi 60/ Tỉnh Bình Thuận (NXB Bình Thuận 1959) – Nhiều Tác Giả, 81 chúng tôi 61/ Tổ Chức Hệ Thống Thông Tin Địa Lý GIS & Phần Mềm MapInfo 4.0 (NXB Xây Dựng 2005) – Ts. Nguyên Thế Thận, 208 chúng tôi 62/ Tổng Kết Nghiên Cứu Địa Bạ Nam Kỳ Lục Tỉnh (NXB Tổng Hợp 1994) – Nguyễn Đình Đầu, 347 chúng tôi 63/ ĐHNN.Giáo Trình Hệ Thống Thông Tin Địa Lý – Trần Thị Băng Tâm, 140 chúng tôi 64/ ĐHNN.Giáo Trình Thực Tập Trắc Địa 1 – Ts.Nguyễn Khắc Thời, 62 chúng tôi 65/ ĐHNN.Giáo Trình Trắc Địa – Ts.Đàm Xuân Hoàn, Nguyễn Khắc Thời, 199 chúng tôi 66/ ĐHQG.Phần Mềm Acview GIS – Nguyễn Hồng Phương, 96 chúng tôi 67/ ĐHQN.Giáo Trình Địa Lí Tự Nhiên Đại Cương – Nguyễn Hữu Xuân, 210 chúng tôi 68/ ĐHSP.Địa Lý Kinh Tế Xã Hội Việt Nam – Ts. Phạm Xuân Hậu, 162 chúng tôi Phương Đình Dư Địa Chí (NXB Tự Do 1959) – Nguyễn Văn Siêu, 277 chúng tôi 70/ Đại Việt Địa Dư – Lương Văn Can, 83 chúng tôi

72/ Địa Bạ Cổ Hà Nội Tập 1-Huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận (NXB Hà Nội 2005) – Phan Huy Lê, 808 chúng tôi 73/ Địa Chí Bà Rịa Vùng Tàu (NXB Khoa Học Xã Hội 2005) – Nguyễn Trọng Minh, 1112 chúng tôi 74/ Địa Chí Bà Rịa Vũng Tàu (NXB Khoa Học Xã Hội 2005) – Thạch Phương & Nguyễn Trọng Minh, 1112 chúng tôi

76/ Địa Chí Bình Thuận (Xuất Bản 1935) – Nhiều Tác Giả, 35 chúng tôi Thành Nam Địa Danh Và Giai Thoại (NXB Văn Hóa 2012) – Ngô Tiến Vạnh, 382 chúng tôi 77/ Địa Chí Bình Định Tập-Địa Bạ & Phép Quân Điền (NXB Quy Nhơn 2003) – Nguyễn Đình Đầu, 219 chúng tôi 78/ Địa Chí Loại Quyển 5 – Nguyễn Văn Siêu, 170 chúng tôi Tuyển Tập Các Công Trình Nghiên Cứu Địa Lý (NXB Khoa Học Kỹ Thuật 2003) – Pgs. Ts. Nguyễn Văn Cư, 584 chúng tôi 79/ Địa Chí Nam Định (NXB Nam Định 2000) – Pgs. Ts. Nguyễn Quang Ngọc, 959 chúng tôi 80/ Địa Chí Nam Định – Pgs.Ts.Nguyễn Quang Ngọc, 920 chúng tôi 81/ Địa Chí Quảng Ngãi – Ts.Nguyễn Kim Hiệu, 1162 chúng tôi 82/ Địa Chí Thăng Long Hà Nội Trong Thư Tịch Hán Nôm (NXB Thế Giới 2007) – Nguyễn Thúy Nga, 1172 chúng tôi

85/ Địa Chí Tỉnh Vĩnh Yên (NXB Thụy Ký 1939) – Nha Học Chánh Vĩnh Yên, 42 chúng tôi 86/ Địa Chí Văn Hóa Dân Gian Ninh Bình – Trương Đình Tưởng, 690 chúng tôi 87/ Địa Dư Các Tỉnh Bắc Kỳ (NXB Lê Văn Tân 1930) – Đỗ Đình Nghiêm, 171 chúng tôi 88/ Địa Dư Việt Nam Lớp Nhì & Nhất (NXB Việt Hương 1950) – Nhiều Tác Giả, 116 chúng tôi

90/ Địa Lí Các Tỉnh Và Thành Phố Việt Nam Tập 2-Các Tỉnh Vùng Đông Bắc, 384 chúng tôi 91/ Địa Lí Các Tỉnh Và Thành Phố Việt Nam Tập 3-Các Tỉnh Vùng Tây Bắc & Vùng Bắc Trung Bộ, 401 chúng tôi 92/ Địa Lí Các Tỉnh Và Thành Phố Việt Nam Tập 4-Các Tỉnh & Thành Phố Duyên Hải Nam Trung Bộ & Tây Nguyên, 470 chúng tôi 93/ Địa Lí Các Tỉnh Và Thành Phố Việt Nam Tập 5-Các Tỉnh Thành Phố Cực Nam Trung Bộ & Đông Nam Bộ, 417 chúng tôi 94/ Địa Lí Các Tỉnh Và Thành Phố Việt Nam Tập 6-Các Tỉnh Và Thành Phố Đồng Bằng Sông Cửu Long, 579 chúng tôi 95/ Địa Lý Tự Nhiên Đại Cương 1-Trái Đất & Thạch Quyển, 260 chúng tôi 96/ Địa Lý Tự Nhiên Đại Cương 2-Khí Quyển & Thủy Quyển, 219 chúng tôi 97/ Địa Lý Tự Nhiên Đại Cương 3-Thổ Nhưỡng Quyển & Sinh Quyển, 262 chúng tôi

99/ Địa Phương Chí Tỉnh Bình Thuận (NXB Bình Thuận 1971) – Ngô Tấn Nghĩa, 60 chúng tôi Đại Việt Địa Dư (NXB Nghiêm Hàm 1925) – Lương Văn Can, 83 chúng tôi 100/ Địa Phương Chí Tỉnh Bình-Tuy (NXB Bình Thuận 1975) – Nhiều Tác Giả, 55 chúng tôi

Địa Bạ Cổ Hà Nội Tập 1 (NXB Hà Nội 2005) – Phan Huy Lê, 808 chúng tôi 103/ Ứng Dụng Tin Học Trong Nghiên Cứu Và Dạy Địa LÝ (NXB Giáo Dục 2008) – Trần Viết Khanh, 104 chúng tôi Địa Chí Bình Thuận (NXB Bình Thuận 2007) – Lâm Quang Hiền & Tô Quyên, 996 chúng tôi Địa Chí Thừa Thiên Huế 1-Phần Tự Nhiên – Gs. Ts. Nguyễn Thanh, 313 chúng tôi Địa Chí Thừa Thiên Huế 2-Phần Lịch Sử – Ts. Nguyễn Văn Hoa, 583 chúng tôi Địa Lí Các Tỉnh Và Thành Phố Việt Nam Tập 1-Các Tỉnh Và Thành Phố Đồng Bằng Sông Hồng, 304 chúng tôi Địa Lý Và Lịch Sử Việt Nam – Nhiều Tác Giả, 602 chúng tôi Địa Phương Chí Tỉnh Hải Dương Qua Tư Liệu Hán Nôm (NXB Khoa Học Xã Hội 2009) – Đinh Khắc Thuần, 575 chúng tôi Ức Trai Di Tập Dư Địa Chí (NXB Văn Sử Học 1960) – Nguyễn Trãi, 186 chúng tôi

LIÊN HỆ: Mr Trung: 0933 60 9119 – Mr Nam: 0984 86 8811

Phong Thủy Địa Lý Tả Ao

CHÂN TRUYỀN CHÍNH PHÁP

SƠ LƯỢC VỀ TẢ AO: Tả Ao (左幼) hay Tả Ao tiên sinh (左幼先生), là nhân vật làm nghề địa lý phong thuỷ nổi tiếng ở Việt Nam. Ông được cho là tác giả của một số cuốn sách Hán Nôm cổ truyền bá thuật phong thủy của Việt Nam. Trong dân gian tương truyền nhiều giai thoại cổ về hành trạng thuật phong thủy của ông ở các làng xã Việt Nam thời xưa. Tả Ao có quê ở làng Tả Ao, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay thuộc xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh)

CUỘC ĐỜI CỦA TẢ AO TIÊN SINH:

Cái tên Tả Ao không phải là tên thật của nhân vật này, mà là tên làng quê của ông, được ông lấy làm tên hiệu và gắn với tác phẩm của mình. Cũng tương truyền, tên ông được người xưa lấy tên làng, nơi ông sinh ra để gọi, mà không gọi tên thật. Tên thật của ông thì không rõ ràng. Bách khoa toàn thư Việt Nam viết rằng: Tả Ao, trong sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, có tên là Hoàng Chiêm hay Hoàng Chỉ. Còn trong dân gian, xuất phát từ quê hương ông, lưu truyền tên gọi thật là Vũ Đức Huyền. Cũng có nguồn nói rằng ông có tên là Nguyễn Đức Huyền. Tả Ao sinh vào khoảng năm Nhâm Tuất (1442), sống thời Lê sơ (Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông và Lê Uy Mục, tức là khoảng những năm 1442-1509). Có tài liệu cho rằng Tả Ao sinh sống trong khoảng đời vua Lê Hy Tông (1676-1704). Ngoài ra, có các sách Địa lý phong thủy Tả Ao và Địa lý Tả Ao chính tông của tác giả Vương Thị Nhị Mười; Nghiên cứu Phong thủy và Phong thủy Việt Nam của Ngô Nguyên Phi… đều nói sơ lược về lai lịch Tả Ao. Các sử gia thời Lê Nguyễn đều không chép về ông nên cuộc đời ông chỉ được chép tản mát trong một số truyện, sách đại lý phong thủy thời nhà Nguyễn và sau này. Sách Hán Nôm được cho là do Tả Ao truyền lại gồm: Tả Ao chân truyền di thư (左 幼 真 傳 遺 書), Tả Ao chân truyền tập (左 幼 真 傳 集), Tả Ao chân truyền địa lý (5 tập-左 幼 真 傳 地 理), Tả Ao tiên sinh bí truyền gia bảo trân tàng (左 幼 先 生 祕 傳 家 寶 珍 藏), Tả Ao tiên sinh địa lý (左 幼 先 生 地 理), Tả Ao xã tiên sư thư truyền bí mật các lục (左 幼 社 先 師 書 傳 祕 宓各 局). Các tác phẩm này hiện lưu trữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Tuy nhiên Viện Hán Nôm cũng chú thích rằng: Tả Ao là tên hiệu của Hoàng Chiêm. Tả Ao còn để lại hai bộ sách, đó là: Địa đạo Diễn ca (120 câu văn vần), Dã đàm hay Tầm Long gia truyền Bảo đàm (văn xuôi) và một số dị bản khác: “Phong thủy Địa lý Tả Ao Địa lý vi sư pháp”, “Phong thủy Địa lý Tả Ao Bảo ngọc thư” (của Vương Thị Nhị Mười-Nhà xuất bản Mũi Cà Mau-2005) và “Dã đàm Tả Ao” (của Cao Trung xuất bản tại Sài Gòn năm 1974)”… Các sách vở cũng như truyền thuyết đều coi ông là Thánh Địa lý Tả Ao, trạng Tả Ao, là thuỷ tổ khai môn, đệ nhất về địa lý phong thuỷ Việt Nam, giỏi địa lý phong thủy như Cao Biền của Trung Quốc.

GIAI THOẠI VÀ TRUYỀN THUYẾT

Tả Ao Tiên sinh – Thầy địa lý Tả Ao là ông Mỗ (không xác định được danh tính). Thuở nhỏ, mồ côi cha, nhà nghèo, mẹ mắt lòa, ông theo một khách buôn ở phố Phù Thạch (gần rú Thành ở Nghệ An) về Tàu để lấy thuốc chữa bệnh cho thân mẫu. Thầy thuốc khen Tả Ao có hiếu nên hết lòng dạy cho. Khi có thầy địa lý bị mù loà mời ông thầy đến chữa, do già yếu nên ông thầy sai Tả Ao đi chữa thay. Khi Tả Ao chữa khỏi mù loà, ông thầy địa lý nhìn thấy Tả Ao nghĩ bụng: Người này có thể truyền nghề cho được đây. Tả Ao cũng có ý muốn học, vả lại thấy Tả Ao thông minh, hiếu học, để trả ơn chữa bệnh nên thầy địa lý nọ đã truyền hết nghề, hơn một năm đã giỏi. Để thử tay nghề của học trò, ông thầy bèn đổ cát thành hình núi sông và vùi một trăm đồng tiền ở các huyệt đạo, rồi bảo Tả Ao tìm thấy huyệt thì xuyên kim xuống. Tả Ao đã cắm được chín chín kim đúng lỗ đồng tiền (chính huyệt), chỉ sai có một. Xong ông thầy nói: Nghề của ta đã sang nước Nam mất rồi. Rồi cho Tả Ao cái tróc long và thần chú. Tả Ao về nước Nam chữa khỏi bệnh cho thân mẫu. Trước khi từ biệt, ông thầy địa lý bên Tàu dặn: Khi về Nam, nếu qua núi Hồng Lĩnh thì đừng lên. Nhưng một lần đi qua Hồng Lĩnh, không hiểu duyên cớ gì Tả Ao lại lên núi và thấy kiểu đất Cửu long tranh châu (chín rồng tranh ngọc), mừng mà nói rằng: Huyệt đế vương đây rồi, thầy dặn không lên là vì thế. Bèn đưa mộ cha về táng ở đấy. Ít lâu, vợ Tả Ao sinh hạ được một con trai. Khi ấy, nhà Minh bên Trung Quốc, các thầy thiên văn phát hiện các vì tinh tú đều chầu về nước Nam nên tâu với nhà vua, ý là nước Nam được đất sẽ sinh ra người tài, sẽ hại cho nhà Minh. Vua bèn truyền các thầy địa lý là nếu ai đặt đất hoặc dạy cho người Nam thì phải sang tìm mà phá đi, nếu không sẽ bị tru di tam tộc. Ông thầy của Tả Ao biết là chỉ có học trò của mình mới làm được việc này nên cho con trai tìm đường xuống nước Nam mà hỏi: Từ khi đại huynh về đã cất được mộ phần gia tiên nào chưa. Tả Ao cũng thực tâm thuật lại việc đặt mộ cha mình. Con thầy Tàu dùng mẹo cất lấy ngôi mộ, bắt con trai của Tả Ao đem về Tàu. Rồi thân mẫu của Tả Ao mất, Tả Ao tìm được đất Hàm rồng ở ngoài nơi hải đảo để táng. Đến ngày giờ định táng thì trời gió to sóng lớn, không mang ra được. Lát sau trời yên, biển lặng ở đó nổi lên một bãi bồi, Tả Ao bèn than rằng: Đây là hàm rồng, năm trăm năm rồng mới há miệng một lần trong một khắc. Trời đã không cho thì đúng là số rồi. Rồi Tả Ao chán nản gia cảnh, bỏ quê hương chu du khắp bốn phương để chữa bệnh, tìm đất giúp người. Khi già yếu, Tả Ao cũng đã chọn cho mình chỗ an táng kiểu đất Nhất khuyển trục quần dương (chó đuổi đàn dê) ở xứ Đồng Khoai. Nếu táng được ở đây thì chỉ ba ngày sau là thành Địa Tiên. Tả Ao có hai người con trai nhưng do Tả Ao chu du thiên hạ, không màng danh vọng, bổng lộc nên gia cảnh, con cái thì bần hàn. Lúc sáu lăm tuổi, biết mình sắp về chầu tiên tổ nên bảo hai con khiêng đến chỗ ấy, để nằm dưới mộ và sẽ tự phân kim (chôn lúc chưa chết hẳn), dặn con cứ thế mà làm. Mới được nửa đường, biết là sẽ chết trước khi đến nơi nên Tả Ao bèn chỉ đại một gò bên đường mà dặn con rằng: Chỗ kia là ngôi Huyết thực, bất đắc dĩ thì cứ táng ở đó, sẽ được người ta cúng tế. Hai con bèn táng luôn ở đó (Sách Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án – Nhà xuất bản Văn học 2001, sách Nam Hải dị nhân của Phan Kế Bính – Nhà xuất bản Thanh niên 1999). Tả Ao tìm được chỗ táng cho thân mẫu ngoài bãi biển nhưng khi chuẩn bị táng thì mưa gió, sóng biển ầm ầm nên người anh trai sợ mất mộ nên không cho táng. Khi Tả Ao ngã bệnh phương xa mới sai học trò đưa về để táng tại nơi đã chọn. Về được nửa đường người học trò đó lại mất trước, Tả Ao hay tin thì ốm nặng bèn sai người nhà mang đến chỗ ấy. Đường thì xa, liệu chừng không đưa được đến nơi nên bèn chỉ cái gò bên dọc đường… (Sách Nam Hải dị nhân của Phan Kế Bính – Nhà xuất bản Thanh niên 1999). Ngày nay ở Việt Nam vẫn còn nhiều truyền thuyết, giai thoại được sách vở ghi lại, truyền miệng trong dân gian như việc Tả Ao phá trấn yểm của Cao Biền trên núi Tản Viên ở Hà Nội, núi Hàm Rồng ở Thanh Hóa, các truyền thuyết, giai thoại Tả Ao tìm nơi đất tốt để đặt đình chùa, đền miếu, mồ mả, nhà cửa; giúp dân nghèo, trị kẻ gian ác. Tương truyền làng này có tục nọ, nghề kia là do Tả Ao chọn đất, hướng đình; họ này phát danh khoa bảng, họ kia phát công hầu khanh tướng là do Tả Ao tìm long mạch, huyệt đạo đặt mồ mả. Có một truyền thuyết còn lưu truyền đến ngày nay tại thôn Nam Trì xã Đặng Lễ huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên (nơi có đền thờ Tả Ao): Truyền tích gắn liền với ngôi đền thờ Tả Ao làng Nam Trì. còn lưu truyền đến ngày nay là thời kỳ Tả Ao ở khu vực Hưng Yên một thời gian. Tả Ao về huyện Thiên Thi (tên cũ của Ân Thi) đã cắm đất, chọn ngày xây đình chùa, đặt mồ mả để cho hai làng Thổ Hoàng (nay thuộc thị trấn Ân Thi) và Hới (tức làng Hải Triều, trước thuộc huyện Tiên Lữ, nay thuộc Hưng Yên) phát về đường khoa cử, giàu có nên lưu truyền trong dân gian câu ngạn ngữ nhất Thi nhì Hới. Tại Nam Trì, Tả Ao đã giúp dân làng lập lại làng, chuyển đền, chùa và tìm đất đặt mộ phần cho họ Đinh tại gò Tam Thai vượng về võ tướng. Đến năm Giáp Thìn niên hiệu Quảng Hòa thứ 4 (1544) đời Mạc Phúc Hải, người họ Đinh làng Nam Trì là Đinh Tú đỗ Đệ tam giáp Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân và được bổ nhiệm làm quan Hiến Sát xứ Hải Dương, được phong tước Phù Nham bá. Hậu duệ của Đinh Tú (lăng mộ tại Nam Trì), chuyển sang sống ở làng Hàm Giang (Hàn Giang) huyện Cẩm Giàng là Đinh Văn Tả là một danh tướng thời Lê-Trịnh.

SÁCH VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO

Sách Hán Nôm được cho là do Tả Ao truyền lại gồm: Tả Ao chân truyền di thư (左 幼 真 傳 遺 書), Tả Ao chân truyền tập (左 幼 真 傳 集), Tả Ao chân truyền địa lý (5 tập-左 幼 真 傳 地 理), Tả Ao tiên sinh bí truyền gia bảo trân tàng (左 幼 先 生 祕 傳 家 寶 珍 藏), Tả Ao tiên sinh địa lý (左 幼 先 生 地 理), Tả Ao xã tiên sư thư truyền bí mật các lục (左 幼 社 先 師 書 傳 祕 宓各 局). Các tác phẩm này hiện lưu trữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Tuy nhiên Viện Hán Nôm cũng chú thích rằng: Tả Ao là tên hiệu của Hoàng Chiêm. Tả Ao còn để lại hai bộ sách, đó là: Địa đạo Diễn ca (120 câu văn vần), Dã đàm hay Tầm Long gia truyền Bảo đàm (văn xuôi) và một số dị bản khác: “Phong thủy Địa lý Tả Ao Địa lý vi sư pháp”, “Phong thủy Địa lý Tả Ao Bảo ngọc thư” (của Vương Thị Nhị Mười-Nhà xuất bản Mũi Cà Mau-2005) và “Dã đàm Tả Ao” (của Cao Trung xuất bản tại Sài Gòn năm 1974)”… Các sách vở cũng như truyền thuyết đều coi ông là Thánh Địa lý Tả Ao, trạng Tả Ao, là thuỷ tổ khai môn, đệ nhất về địa lý phong thuỷ Việt Nam, giỏi địa lý phong thủy như Cao Biền của Trung Quốc

ĐỀN THỜ CỦA TẢ AO TIÊN SINH

Có rất nhiều truyền thuyết, giai thoại được sách vở ghi lại, nhất là giai thoại khi Tả Ao mất, táng ở “ngôi Huyết thực” để được một làng cúng tế. Thực tế, cũng chưa thấy ở đâu (kể cả ở quê hương) có đền thờ Tả Ao và cũng không thấy Tả Ao được phong thần. Hiện nay, có lẽ là duy nhất ở thôn Nam Trì xã Đặng Lễ huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên có thờ Tả Ao. Đền Nam Trì nguyên thờ tam vị Thượng đẳng phúc Thần: Thừa tướng Lữ Gia (Bảo Công), tướng Nguyễn Danh Lang (Lang Công), Cao Biền (Cao Vương) và Tả Ao gắn với Lễ hội Nam Trì (hay Lễ hội: Bảo, Lang, Biền). Trong danh sách 7 vị thần thờ ở đền Nam Trì (3 vị trên và 1 vị phu nhân Lữ Gia và 2 vị phu nhân Cao Biền) thì vị thứ 7 là Nguyễn Lang nhưng thực tế ở Nam Trì thì chỉ biết vị thứ 7 là Tả Ao chứ không biết Nguyễn Lang là ai. Theo lịch sử và thần tích thờ tự đền Nam Trì thì khi Tả Ao giúp dân làng lập lại làng, chuyển chùa, đền thờ về phía Tây Nam; nhớ công ơn Tả Ao dân làng Nam Trì đã tôn Tả Ao là vị Bản cảnh Thành hoàng và thờ cùng tam vị Thượng đẳng phúc Thần từ đó đến nay. Hiện trong đền Nam Trì có câu đối của Tả Ao tả về địa lý, phong thuỷ làng Nam Trì: Tây lộ khê lưu kim tại hậu – Đông giang thuỷ tụ mộc cư tiền nghĩa là phía tây của đường làng có dòng nước chảy, phía sau của làng là hướng Tây Bắc (hướng tây bắc hành kim) – phía đông làng có sông nước tụ làng nhìn về hướng đông nam (hướng đông nam hành mộc)

PHONG THỦY ĐỊA LÝ TẢ AO

CHÂN TRUYỀN CHÍNH PHÁP

Tư vấn phong thủy : Nhà ở, biệt thự, chung cư, nhà thờ họ….

Tư vấn địa lý : Tư vấn huyệt mộ đẹp, huyệt kết, xem hướng….

Tư vấn ngày đẹp : Ngày cưới hỏi, động thổ, trấn trạch, khai trương…

Tư vấn sinh con : Tư vấn sinh con trai, đặt tến, hướng nghề nghiệp…

Tư vấn doanh nghiệp : Đặt tên doanh nghiệp, tên sản phẩm, bộ nhận diện…

Tư vấn đồ thờ : Đồ thờ hợp phong thủy…

MỌI THÔNG TIN VUI LÒNG LIÊN HỆ TƯ VẤN

Phật Giáo Và Địa Lý Phong Thủy

Đối với vạn vật trong cõi nhân gian, Phật giáo đều có sự quan sát thấu đáo, hiểu rõ thiên có thiên lý, địa có địa lý, nhân có nhân lý, vật có vật lý, tình có tình lý, tâm có tâm lý. Trên thế gian bất kỳ sự vật gì cũng có cái “lý” riêng biệt của nó, địa lý phong thủy tất nhiên cũng có “nguyên lý” của nó.

Địa lý là dựa vào địa hình và phương vị thiên thể mà sinh ra tầm ảnh hưởng đối với con người, đây là thường thức của tự nhiên; thuận với lẽ tự nhiên có thể thu được thời cơ thuận lợi, đạt được địa thế cực tốt của non sông; trái với tự nhiên, sẽ có kết quả ngược lại.

Mưu cầu cuộc sống bình an, mong mỏi xa lìa những muộn phiền âu lo, xưa nay đều như vậy. Nhưng mà, thái độ của người bình thường, đối với các sự vật không hiểu, không biết, không thể nhìn thấy, thường mù quáng mò mẫm suy đoán chủ quan, gán ghép méo mó, thậm chí mê hoặc tin nó, vì vậy dễ dàng bị mê tín thần quyền điều khiển, khống chế. Người Trung Quốc từ xưa đến nay tin tưởng một cách tuyệt đối vào thuyết “địa lý phong thủy có thể ảnh hưởng tới phúc họa của một đời người”, là một ví dụ.

Địa lý phong thủy cố nhiên có nguyên lý của nó, song không phải là chân lý rốt ráo. Đứng ở góc độ của thuyết Nghiệp lực và thuyết Nhân quả trong giáo lý của Đức Phật để xem xét, ta thấy rằng lành dữ họa phúc, đều là do nghiệp nhân thiện ác của kiếp quá khứ tạo thành quả báo của đời nay, vốn không phải chịu tác động chi phối hay thao túng của phong thủy địa lý.

Hơn nữa, dưới cái nhìn thời-không của Phật giáo, người học Phật biết rằng hư không vốn không có phương vị tuyệt đối, ví như hai người là A và B ngồi đối diện nhau, bên phải của A là bên trái của B, phía trước của B là phía sau của A, trong thời-không vô biên, không ranh giới, sinh mệnh thật sự của chúng ta là đang ở khắp mọi nơi, không chỗ nào không có mặt, làm gì có chuyện phân chia phương vị thời-không?

Khi một người có thể giác ngộ để thể chứng được bản lai diện mục của chính mình, thì bản thể tự tâm liền biến khắp hư không, tràn ngập pháp giới, ngang khắp mười phương, dọc cùng ba đời, dung hòa thành nhất thể với thời-không vô hạn, vì vậy phương vị không ở chỗ khác, mà là ở ngay trong tâm của mỗi chúng ta.

Thời đại Đức Phật, trong Bà-la-môn-giáo thuộc xứ Ấn Độ, có thuyết “sáng sớm tắm rửa, kính lễ sáu phương, có thể tăng thêm tuổi thọ và của cải”. Lúc bấy giờ, Thiện Sanh – con của một vị trưởng giả ở thành Vương Xá, mỗi sáng sớm sau khi tắm rửa xong, liền y vào pháp của Bà-la-môn hướng về sáu phương lễ bái. Đức Phật nói với ông ta rằng: Sáu phương (đông, nam, tây, bắc, thượng, và hạ) có thể phối hợp với cha mẹ, thầy cô, vợ chồng, gia tộc, đầy tớ, Sa môn (Srmaṇa) Bà- la-môn…; tiếp đó, Ngài thuyết về năm pháp cung kính mà mỗi một con người tùy theo phương vị của mình đều phải tuân giữ khi đối xử với người khác tùy theo phương vị của họ, điều đã được nêu trong kinh Thiện Sanh.

Đức Phật mượn năm việc này hướng dẫn cho tín chúng cách giao tiếp, ứng xử đúng với đạo đức luân lý gia đình; đồng thời qua đấy cho biết phong thủy, địa lý cần phải xây dựng trên luân lý, thế lý, pháp lý, và cả tâm lý; chỉ cần chúng ta thành tâm, cõi lòng thanh thản, thì “mỗi ngày đều là ngày đẹp, khắp nơi đều là nơi đẹp”, cho dù đi khắp thiên hạ, đều là địa lợi nhân hòa, lương thần cát nhật (ưu thế về địa lý được lòng người, ngày lành tháng tốt), bởi vì tất cả phước điền đều không rời xa tâm địa.

Phật giáo là một tôn giáo trí tín, tất cả giáo lý Phật giáo như Nghiệp lực, Nhân quả, Tam pháp ấn, Tứ diệu đế, Bát thánh đạo, Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, đều có mục đích chung là nhằm khai mở trí tuệ của chúng sinh, giúp đỡ chúng sinh nhận thức đúng bản chất của thực tướng nhân sinh, từ đó đi đến giải quyết các phiền não khổ đau, đạt được giải thoát tự tại, sao có thể mê tín dị đoan địa lý phong thủy, chỉ tăng thêm phiền não, vọng niệm và si mê mà thôi.

Trong kinh Di giáo, Đức Phật khuyên răn đệ tử rằng: ” Coi tướng lành dữ, tính tử vi, suy luận hão huyền, coi bói tính số; những việc coi ngày giờ tốt xấu như thế này đều không nên làm“. Luận Đại trí độ quyển 3 nói: ” Người xuất gia lấy thuật xem tinh tú, nhật nguyệt phong vũ… để tồn tại, là cầu miếng ăn ” là một trong những cách mưu sinh không chính đáng mà Đức Phật khuyến cáo người xuất gia cần phải tránh xa. “Coi tướng lành dữ” chính là một trong “ngũ tà mệnh” (năm cách kiếm sống không chính đáng), người con Phật nên lấy đó làm lời cảnh tỉnh, nhắc nhở cho chính bản thân mình.

Phật giáo cho rằng “mọi người đều có Phật tính”, chính là muốn chúng ta nhận thức chính mình, khẳng định chính mình, và tin tưởng vào chính mình, từ đây làm chủ nhân của chính mình. Vì thế, chỗ tốt lớn nhất trong việc học Phật, chính là làm cho chúng ta vượt thoát ra ngoài sự mê tín dị đoan thần quyền, không chịu sự chi phối của địa lý phong thủy, trả lại cho chính mình một đời sống tự do tự chủ.

Điều mà thầy phong thủy Trung Quốc nghĩ rằng địa lý tốt nhất phải là “phía trước có chim Chu tước, phía sau có chim Huyền vũ, bên trái có rồng cuộn, bên phải có hổ chầu” (tiền Chu tước, hậu Huyền vũ, tả long bàn, hữu hổ cứ), thực ra chính là “trước có phong cảnh, sau có núi cao, bên trái có dòng sông, bên phải có thông lộ”. Lấy điều kiện sinh hoạt tốt nhất trong môi trường sống hiện đại mà nói, có thể tóm tắt bốn điểm sau đây:

1. Phải có hệ thống thông gió, xung quanh bốn hướng, thông thoáng không bị cản trở; 2. Phải có ánh sáng mặt trời, ánh sáng tự nhiên, ấm áp, sạch sẽ; 3. Phải có khoảng trống để ngắm nhìn, mênh mông bát ngát, cõi lòng siêu thoát; 4. Phải có thông lộ, ra vào dễ dàng, ta người đều thấy tiện lợi.

Nói tóm, chỉ cần có thể tiện lợi cho sinh hoạt, trong cõi lòng vui vẻ thoải mái, đấy chính là địa lý phong thủy tuyệt vời nhất.

Phật giáo cho rằng bên ngoài nếu có được địa lý môi trường chung quanh tốt đẹp, cố nhiên là điều rất tốt lành, nhưng quan trọng hơn cả là nội tâm cũng phải có địa lý phong thủy tốt đẹp. Nghĩa là nội tâm bên trong có: thông gió tốt – dòng suy nghĩ thông suốt; ánh nắng tốt – nhiệt tâm cởi mở; tầm nhìn tốt – nhìn về tương lai; con đường tốt – Bồ đề chánh đạo, đây chính là “long huyệt” tốt đẹp nhất, cao vời nhất của nội tâm bên trong.

Ông Tổ Phong Thủy Địa Lý Việt Nam

Đền thờ của ông được lập ở nhiều nơi, có cả bên Trung Quốc; sách của ông được nhiều thế hệ thầy địa lý sau này “ăn theo”… Thế nhưng tại sao Tả Ao lại không truyền “nghề” cho hậu duệ? Tả Ao chỉ là tên địa danh? Ông là thủy tổ khai sinh môn địa lý phong thủy Việt Nam . Các sách vở cũng như truyền thuyết đều gọi ông là Thánh Địa lý Tả Ao, Trạng Tả Ao; là đệ nhất chính tông về địa lý, giỏi như Cao Biền bên Trung Quốc.Trong dân gian lưu truyền nhiều giai thoại về hành trạng pháp thuật của ông ở nhiều làng quê.

Ở thôn Nam Trì, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên có đền thờ 3 thượng đẳng phúc thần: Tể tướng Lữ Gia (Bảo Công), tướng Nguyễn Danh Lang (Lang Công) và Cao Biền (Cao Vương) và Bản cảnh thành hoàng Tả Ao. Bởi nơi đây Tả Ao đã chọn đất lập làng để làng thịnh vượng và phát triển. Tại sao ngài lại giỏi địa lý như vậy? Có 2 nguồn truyền miệng về việc Tả Ao tầm sư học đạo nên nggười. Một truyền thuyết kể rằng, Tả Ao cứu một thầy địa lý người Trung Quốc chết đuối ở sông Phù Thạch xứ Nghệ. Ông ta đem vàng bạc trả ơn, ngài không lấy. Thấy ngài tướng mạo khôi ngô và tính tình hiền hòa, ông ta đưa về Tàu truyền nghề địa lý để trả ơn. Do thông minh nên ngài thu thập được những tinh hoa trong thuật phong thủy địa lý của người thầy, về nước rồi hành trạng pháp thuật. Một giả thuyết thứ hai nói rằng, do mẹ của ngài mù lòa, nhà lại nghèo, để có thuốc chữa mắt cho mẹ, ngài đã ở không công cho người khách ngồi bốc thuốc ở Phù Thạch. Thấy ngài là người con hiếu thảo, lại ăn ở chu đáo, hiền lành, nên khi về nước, ông ta xin cho ngài đi theo. Ở đây ngài học lỏm được nghề cắt thuốc chữa mắt. Có lần ngài đã chữa khỏi mắt cho một thầy địa lý lành nghề, thấy tướng mạo tuấn tú, tính cách nhanh nhẹn hợp với nghề của thầy và cũng để trả ơn, ông xin phép thầy lang đưa ngài về nhà để truyền thuật địa lý. Do bản tính thông minh ngài đã thâu tóm được phép thuật đó về nước. Giả thuyết này về sau được người đời tin là thật hơn vì cách lí giải trọn vẹn tình hiếu thảo với mẹ (sách nào viết về ngài cũng nói có người mẹ mù lòa), hợp với hoàn cảnh nhà nghèo, nhưng lại là người thông minh, có chí học hỏi nên thành tài. Cái tài của thầy địa lý Tả Ao có bao câu chuyện hấp dẫn có trong sách vở cũng như truyền miệng dân gian, ta có thể tìm đọc hay nghe kể với các biệt tài: Xem thế đất để chọn hướng nhà thỏa mãn yêu cầu của thân chủ như sống thọ, phát tài phát lộc, phát quan, chọn nghề, sinh lắm con nhiều cháu; Chọn hướng táng mồ mả sao cho người sống được mạnh khỏe, giàu có, thành đạt; Chọn nơi đào giếng có nước lành, trong ngon, không cạn, không chạm long mạch; Chọn hướng đình để làng yên ấm trong ngoài, dân cư phát triển… Câu chuyện khẳng định cái tài địa lý của Tả Ao nhưng cũng lắm kết cục khôi hài (chứ không làm hại ai) nếu thân chủ, các chức sắc trong làng xã có những ý tưởng ngông cuồng… Nhưng sao không truyền cho hậu duệ? Tả Ao nổi tiếng bậc thầy về địa lý phong thủy, nhưng con cháu của ngài về sau thì không ai kế nghiệp được.

Xung quanh câu chuyện này cũng có nhiều “dị bản” lí giải khác nhau. Có chuyện kể rằng, Tả Ao bị thầy địa lý (người dạy ngài) sang yểm huyệt táng cha của ngài nên không thể truyền nghề cho hậu duệ. Có truyện chép là một đêm nằm mộng, ngài được báo rằng “đất tốt là của quý, là bí mật của tạo hóa, nếu tiết lộ hết thì “âm” sẽ oán, nên phải tự dấu kín phép thuật”. Cũng có ý kiến cho rằng, Tả Ao có con nhưng các con bất hạnh, làm ông nản. Sau này thi thoảng mới xem phong thủy địa lý cho người khác (cũng ở mức bình thường), ông dành thời gian để chữa mắt cho dân. Tuy vậy, với 2 tập sách mỏng Tả Ao đã để lại cho đời như: Địa đạo diễn ca (chỉ 120 câu), Dã đàm (trong mấy trang văn xuôi) đã được người đời sau phát triển thành lý luận, thành gia bảo chân truyền. Trừ 2 cuốn nói trên, còn những sách khác hiểu lấp lửng là do ngài viết như: Địa đạo diễn ca (Tả Ao hiệu Địa Tiên); Dã Đàm (Tả Ao hiệu Địa Tiên) còn gọi Tả Ao tầm long gia truyền bảo đàm; Tả Ao chân truyền di thư; Tả Ao chân truyền địa lý (Hoàng Chiêm – 5 tập); Hoàng Chiêm địa lý luận; Hoàng Chiêm truyền cơ mật giáo; Tả Ao tiên sư bí truyền gia bảo trân tàng; Tả Ao địa lý luận; Tả Ao chân truyền tập (nhiều tập); Tả Ao tiên sinh bí truyền gia bảo trân tàng (nhiều tập); Tả Ao tiên sinh địa lý (nhiều tập)… Trừ 2 cuốn đầu là của Tả Ao, còn các cuốn sau là của các thầy địa lý khác phát triển về thuật địa lý Tả Ao. Với ngài, ngài không tự xưng là tiên sư, tiên sinh. Hay chân truyền, bí truyền, gia bảo vì không hợp với phong cách và hoàn cảnh của ngài.

Với hiệu trong đền thờ Tả Ao là Địa Tiên (còn hiệu của Nguyễn Đức Huyền là Phủ Hưng). Hầu như các sách đều viết : “Tả Ao tên là Vũ Đức Huyền hiệu Địa Tiên, có nơi còn gọi là Nguyễn Đức Huyền…”. Trong cuốn Nghi Xuân địa chí do Đông Hồ – Lê Văn Diễn soạn năm 1842 cũng viết vậy. Cuốn Từ điển Hà Tĩnh ngoài mục Tả Ao cũng ghi như vậy, còn có mục Vũ Đức Huyền, nhưng không có mục Nguyễn Đức Huyền. Vậy ta dễ chấp nhận Thánh sư địa lý Tả Ao xưa còn gọi là Mỗ (một cách gọi dân dã), tên là Vũ Đức Huyền hiệu Địa Tiên. Sinh vào thời Lê sơ (1428 – 1527). Gốc người Sơn Nam (vùng Hải Dương, Hưng Yên), gia đình phiêu bạt và định cư ở làng Tả Ao nay thuộc xã Xuân Giang huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Có đền thờ Tả Ao, giếng Tả Ao nằm trong khuôn viên của cụm đền huyện Nghi Xuân.